ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

– Bài 1 và Bài 2

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Bài 1: Về Đặc Trưng Thứ Nhất và Đặc Trưng Thứ Hai

Trần Quí Cao

12-11-2014

Đảng Cộng Sản Việt Nam hạ quyết tâm tiến hành việc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam dù phải trả bất cứ giá nào và dù chưa một lần trưng cầu dân ý để biết lòng dân có thuận hay không. Ngày 14/1/2011 ông Lê Hữu Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, có bài tham luận cho rằng (1):

  1. Xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được xây dựng dựa trên thành quả của đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
  2. Xã Hội đó có 8 đặc trưng thể hiện tính ưu việt của nó. Tám đặc trưng đó là:
  3. Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
  4. Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ
  5. Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu
  6. Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
  7. Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
  8. Đặc trưng thứ sáu: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển
  9. Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo
  10. Đặc trưng thứ tám: có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới

Từ sau năm 1975, khi toàn thể đất nước thu về một mối và toàn dân tộc Việt Nam nằm dưới sự lãnh đạo của đảng duy nhất của nước Việt Nam là đảng Cộng Sản Việt Nam (thực ra trước khi khối Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, Việt Nam cũng có 2 đảng làm kiểng là đảng Dân Chủ và đảng Xã Hội, tuy nhiên quyền lãnh đạo cũng hoàn toàn trong tay đảng Cộng Sản), cho đến nay đã hơn 39 năm, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại xem Việt Nam đã đạt được những thành quả nào trong tám đặc trưng nói trên. Trong bài này chúng ta sẽ xét đặc trưng thứ nhất, và chỉ đánh giá thành quả chứ chưa thảo luận nguyên nhân của các thành quả đó.

Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Dân Giàu:

Năm 2012, tính trong các nước ASEAN, GDP/đầu người của Việt Nam nằm ở vị trí thứ 7 theo thứ tự như sau (2):

Brunei, Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Indonexia, Phi Luật Tân, Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia.

Trong đó, GDP/đầu người của Việt Nam xấp xỉ bằng 1/7 của Mã Lai, bằng 1/4 của Thái Lan, bằng 1/2,5 Indonesia. Bằng 1/15 của Hàn Quốc, bằng 1/30 của Nhật.

Vậy, Việt Nam có Giàu không?

Nước Mạnh:

Bàn về nước Mạnh hay Yếu, ta cần xét trên hai mặt:

  1. Thứ nhất, Mạnh là bảo vệ được chủ quyền, được tính tự chủ của quốc gia đối với kẻ đang muốn xâm chiếm đất nước. Lục Xâm Bảo không có nguy cơ bị xâm lấn nên Lục xâm Bảo không cần mạnh. Với Lục Xâm Bảo, chỉ cần Giàu là Mạnh. Với Việt Nam thì khác, Mạnh có nghĩa là Trung Hoa không dám lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam dù đó là đất liền hay hải đảo.
  2. Thứ hai, Mạnh ở đây nên hiểu theo nghĩa tổng hợp, nghĩa là mạnh trên nhiều mặt: quân sự, ngoại giao, kinh tế, chính trị, nội trị… Sức mạnh tổng hợp của các mặt đủ khiến kẻ có dã tâm không dám lấn chiếm hay can thiệp vào chủ quyền của ta.

Ngoại giao: Việt Nam giao thiệp rộng, nhưng yếu vì không có bạn sống chết, nghĩa là không có đồng minh chí cốt. Không là Đối Tác Chiến Lược, không có Hiệp Ước Phòng Thủ chung với một đại cường quốc nào. Khi Trung Hoa tiến công lãnh thổ đất liền Việt Nam, không một quốc gia nào đứng cạnh Việt Nam. Khi Trung Hoa tiến chiếm biển đảo Việt Nam, không một quốc gia nào đứng cạnh Việt Nam. Chỉ khi Trung Hoa lộ rõ ý đồ độc chiếm biển Đông thì thế giới mới phản đối, nhưng để bảo vệ tự do hàng hải, chứ không phải vì VN là đồng minh chí cốt của họ. Về mặt này, so sánh Việt Nam với Nhật hay với Phi Luật Tân, Hàn Quốc, ta thấy rõ rằng Việt Nam rất yếu ớt vì cô đơn ngoại giao.

Kinh tế: Việt Nam nằm ở vị trí thấp về thứ bậc kinh tế tính theo tổng hợp (composite) hay tính theo từng tiêu chí khác nhau. Hệ số ICOR là một trong các ví dụ rõ nét. Nợ xấu của hệ thống ngân hàng và độ lớn của nợ công là những thí dụ khác. Nền kinh tế của VN càng yếu ớt hơn vì tính mất cân bằng và, do đó, tính lệ thuộc của nó. Sự lệ thuộc này, tai hại thay, lại là lệ thuộc Trung Hoa, nước ngàn năm nay luôn muốn chiếm nước ta, và hiện đang bộc lộ rõ ý đồ không chế Việt Nam!

Chính trị: Sự đoàn kết toàn dân làm nên sức mạnh của quốc gia, nhất là một quốc gia bên cạnh Trung Quốc to lớn và luôn mang ý đồ bành trướng. Chính thể độc tài và toàn trị đã phá hỏng nền tảng sức mạnh này của Việt Nam vì nó liên tục khiến lòng dân bất an và bất mãn. Do đó, nội trị tất phải dựa trên công an trị. Dưới bề mặt có vẻ như ổn định, xung đột sâu sắc giữa giới cầm quyền và dân chúng luôn trong trạng thái âm ỉ và có nguy cơ bùng phát. Sinh lực của dân tộc thay vì dành cho phát triển và bảo vệ tự chủ của quốc gia, lại bị dốc vào đàn áp và trấn áp. Sự hao tổn sinh lực này có thể so sánh với một cuộc nội chiến giới hạn cho dù chưa xảy ra chiến tranh giữa các thành phần dân tộc.

Một đất nước có nền Ngoại Giao cô đơn, Kinh Tế lệ thuộc, Chính Trị không phù hợp, Nội Trị bất an và tiềm ẩn nội loạn, thì vũ khí hiện đại nào có thể giúp chống ngoại xâm và giữ chủ quyền? Huống chi, sức mạnh kho vũ khí ta đang có cũng rất giới hạn so với kho vũ khí của nước đang uy hiếp chúng ta! Vậy thì, đối diện với Trung Hoa, nước duy nhất trên thế giới có ý đồ và khả năng xâm lược Việt Nam, Việt Nam chẳng những không Mạnh mà còn rất YẾU so với họ.

Dân Chủ: một nước mà người dân không có quyền tự do ứng cử, bầu cử, không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, không có quyền tự do lập hội, lập đảng, một nước chỉ có một đảng độc tài và toàn trị, không có Tam Quyền Phân Lập,

Nước đó có làm gì có Dân Chủ!

Bình Đẳng: Một nước chỉ có một đảng độc tài và toàn trị, và danh sách ứng cử viên vào Quốc Hội phải được đưa ra bởi đảng độc tài đó, người dân trong nước có Bình Đẳng trong việc tiếp cận quyền lực không? Một nước mà, trong thực tế, người đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam không thể bị đưa ra tòa án (ngoại trừ khi đảng viên đó đã bị khai trừ khỏi đảng), thì dân chúng có Bình Đẳng trước Pháp Luật không?

Công Bằng: Chính thể Độc Tài và Toàn Trị khiến quốc gia suy thoái mọi mặt, tầng lớp cầm quyền tham nhũng “không thứ gì không ăn” tạo thành một “bầy sâu tham nhũng lúc nhúc”, họ nắm hàng tỉ đô la trong một đất nước mà mức thu nhập trung bình trên đầu người khoảng hai ngàn đô la/năm. Đất nước có Công Bằng không? Một nước mà các cơ quan chính quyền cấp bộ nắm các Tổng Công ty hay Công ty rất lớn, hoạt động kinh doanh trong nhiều lãnh vực kinh tế không liên quan hay liên quan rất ít với các lãnh vực then chốt về an ninh, quốc phòng… dân chúng trong nước có được tiếp cận nguồn lực phát triển tổ quốc một cách Công Bằng không?

Một nước không Giàu Mạnh, không Dân Chủ, không Bình Đẳng, không Công Bằng, nước đó không thể gọi là Văn Minh!?

TÓM LẠI:

Nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 5 tiêu chí của đặc trưng thứ nhất là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trần Quí Cao

—————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Hữu Nghĩa. “Những Đặc Trưng Thể Hiện Tính Ưu Việt Của Chủ Nghĩa Xã Hội Mà Nhân Dân Ta Đang Xây Dựng”, Tham Luận tại tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.
  2. List of ASEAN countries by GDP (nominal).http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ASEAN_countries_by_GDP_(nominal)
  3. Dân Chủ. http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7

——-

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Bài 2: Về Đặc Trưng Thứ Hai và Đặc Trưng Thứ Ba

Trần Quí Cao

16-11-2014

Tiếp theo bài 1 đánh giá các thành quả Việt Nam đã đạt được sau 39 năm xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xét theo các tiêu chí của đặc trưng 1, bài này đánh giá theo các tiêu chí của đặc trưng 2 và đặc trưng 3 (1).

Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ

Chúng ta đã minh định trong bài 1 rằng nước ta không Dân Chủ. Nay ta phân tích chi tiết hơn trong mục này.

Hiểu theo nghĩa thông dụng, Dân Chủ là Nhân Dân là Chủ của xã hội, của quốc gia. Khái niệm người chủ bao hàm ý: có các quyền tự do đương nhiên của người chủ.

Hiểu theo khía cạnh học thuyết chính trị thì:

Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận Nhân Dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng và thứ hai, tất cả mọi thành viên đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi (2).

Như vậy, hiểu theo cách thông dụng hay theo khía cạnh học thuyết chính trị, Dân Chủ luôn gắn liền với Tự Do. Không có các quyền Tự Do căn bản, Dân Chúng không thể thực hiện quyền, chức năng làm chủ của mình. Nói cách khác: nếu Dân Chúng không được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi trên thế giới thì quốc gia không có Dân Chủ. Các quyền Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Báo Chí, Tự Do Ứng và Bầu Cử, Tự Do Lập Hội, Lập Đảng là các quyền Tự Do chính yếu trong một nền Dân Chủ.

Trên thực tế, dân Việt Nam không có bất kỳ một quyền nào trong các quyền kể trên.

Ngoài ra, các nhà chính trị học còn nêu lên một thuộc tính của thể chế Dân Chủ là Tam Quyền Phân Lập. Đây là một đặc điểm chính yếu của chính thể Dân Chủ, đặc điểm này phân biệt chính thể Dân Chủ xứng danh với chính thể Dân Chủ mạo danh.

Nhà cầm quyền Việt Nam luôn khẳng định không có Tam Quyền Phân Lập. Như vậy, rõ ràng là, cùng với các quyền tự do căn bản mà người dân không được hưởng, nước Việt Nam không có Dân Chủ, không do Nhân Dân Làm Chủ.

Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

Đặc trưng này nói về nền kinh tế với 2 tiêu chí: lực lượng sản xuất hiện đại vàchế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

Nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại.

Hãy so sánh với các nước có trình độ phát triển kinh tế xấp xỉ Việt Nam vài thập niên trước.

Chúng ta đã so sánh với Hà Quốc bên trên. Trong các tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc (SamSung, Hyundai, LG…) tập đoàn nào cũng có sản phẩm được sản xuất bởi công nghệ hiện đại, cạnh tranh ngang tay với các tập đoàn lừng danh của Nhật và Âu Mỹ… Các tập đoàn này là đối tác kinh doanh toàn cầu được nể trọng của các tập đoàn có truyền thống hùng mạnh của thế giới như General Electric (Mỹ), General Motor (Mỹ), DuPont (Mỹ), Exxon Mobile (Mỹ), BASF (Đức), Siemens (Đức), Total (Pháp)… Khi SamSung triển khai chương trình đầu tư vào Việt Nam, SamSung dành ưu tiên cho các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam cung cấp cho họ 170 sản phẩm chưa phải là cao cấp, thì Việt Nam không thể cung cấp được một sản phẩm nào!

Hãy so sánh thêm với Thái Lan, một nước có nền kinh tế phát triển chưa cao lắm. Năm 2012, ngành công nghiệp xe hơi của họ đứng thứ 9 trên thế giới, một năm sản xuất khoảng 1 triệu rưỡi chiếc xe trong khi Việt Nam sản xuất khoảng 50,00 chiếc, chỉ khoảng ba bốn phần trăm của họ (3). Với Mã Lai, một nước có nền công nghiệp phụ trợ điện tử được ưa chuộng trong khu vực, với Đài Loan, vùng lãnh thổ kinh tế có vị trí thứ tư trên thế giới về nền công nghiệp phụ trợ cung cấp linh kiện cơ khí cho thế giới… So với các nước đó, thì vị trí Việt Nam chúng ta nằm ở đâu?

Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chúng ta xuất khẩu ở dạng thô chứ không ở dạng tinh chế. Chúng ta xuất ở vị trí thấp, thậm chí rất thấp, chứ không ở vị trí cao trên chuỗi giá trị gia tăng. Theo những đánh giá về công nghệ cao, phần đóng góp của công nghệ cao vào nền sản xuất của Việt Nam là rất nhỏ, vài phần trăm.

Việt Nam đã có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại chưa?

Nền kinh tế phát triển cao dực trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

Trên lý thuyết, Việt Nam có chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Quả thật, các Tổng Công Ty, các Tập Đoàn Kinh Tế nhà nước bao trùm mọi mặt kinh tế đất nước.

Tuy nhiên, trên thực tế, lợi nhuận từ các tổng công ty, tập đoàn đó rơi vào túi một thiểu số cá nhân quyền lực mà người ta thường gọi là “nhóm lợi ích”. Điều quan trọng là lợi nhuận tìm được bởi các biện pháp độc quyền (thí dụ trong các ngành Điện, Nước, Xăng Dầu, Than, Khoáng Sản…), bằng các biện pháp hành chánh ưu tiên hay cưỡng bức (thí dụ trong ngành Lúa Gạo), bằng các biện pháp tham nhũng, hối lộ (thí dụ được thấy rõ trong các vụ án Vinashin, Vinalines…) chứ không phải bằng cạnh tranh bình đẳng. Lợi thì vô túi riêng của nhóm lợi ích, Lỗ thì dân gánh chịu.

Có phải những sự việc kể trên chỉ là khuyết điểm của phân bổ không công bình, không quan hệ gì với tính công hữu? Thực ra thì mục tiêu của công hữu là nhằm lo cho số đông dân chúng, nếu công hữu chỉ để một thiểu số vơ vét tài sản của số đông thì chế độ công hữu đó chỉ là chiếc áo thầy tu khoác lên mình tướng cướp. Chế độ công hữu vận hành phối hợp với chế độ độc tài sẽ gây tai hại khủng khiếp cho số đông, người dân làm ra đồng nào sẽ bị gỡ tay lấy hết đồng đó.

Hiện nay, chính sách tư nhân hóa, cổ phần hóa các công ty nhà nước đang được đầy mạnh. Trong hoàn cảnh người dân không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, không được tiếp cận quyền lực, rất nhiều người lo ngại rằng một phần lớn “tư liệu sản xuất chủ yếu” trước đây thuộc “công hữu” và đã được tận dụng tạo “giá trị thặng dư” cho “nhóm lợi ích”, nay sẽ được “tư hữu hóa” để cho “các nhóm lợi ích” chia chác thêm nữa tài sản quốc gia.

Và, như vậy, mục tiêu của công hữu nhằm, như lý thuyết nói, ngăn cản, hạn chế sự bất công, lại có tác dụng đẩy bất công và bốc lột lên một mức cao chưa từng thấy.

Xét trên khía cạnh này, Việt Nam hoàn toàn không có chế độ công hữu xứng danh, nghĩa là không có sự công hữu được thực hiện và quản lý theo những chuẩn mực xã hội văn minh hiện đại.

TÓM LẠI:

Nước Việt Nam không đạt tiêu chí duy nhất trong đặc trưng thứ hai là do nhân dân làm chủ. Và cũng không đạt hai tiêu chí của đặc trưng thứ ba là có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

Trần Quí Cao

————————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Hữu Nghĩa. “Những Đặc Trưng Thể Hiện Tính Ưu Việt Của Chủ Nghĩa Xã Hội Mà Nhân Dân Ta Đang Xây Dựng”, Tham Luận tại tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.
  2. Dân Chủ. http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7
  3. Automotive Industry In Thailand.http://en.wikipedia.org/wiki/Automotive_industry_in_Thailand

 ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – Bài 3

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Bài 3: Đặc Trưng Thứ Tư

Trần Quí Cao

18-11-2014

Bài 1 và bài 2 đã đánh giá nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 5 tiêu chí của đặc trưng thứ nhất là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; không đạt tiêu chí duy nhất của đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ; không đạt hai tiêu chí của đặc trưng thứ ba là có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

Bài này sẽ đánh giá các tiêu chí của đặc trưng thứ tư (1).

Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Đặc trưng này nói về văn hóa và có 2 tiêu chí: nền văn hóa tiên tiến, và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.

Nói tới Văn Hóa là nói tới một khái niệm rộng và phức tạp. Theo ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO: “Văn Hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”.

Nhiều nhà sử học đồng ý rằng tại Việt Nam có 3 lớp văn hóa chồng chất lên nhau, trong đó văn hóa Đông Sơn là văn hóa bản địa hấp thu văn hóa Trung Hoa và văn hóa Tây phương tạo nên văn hóa Việt Nam hiện nay.

Nền văn hóa tiên tiến

Theo ông Bùi Minh Huệ: Văn Hóa tiên tiến là chống lại tất cả những gì trái khoa học, phản tiến bộ (2).

Nói tới Khoa Học là nói tới tính rộng mở đón nhận luận điểm trái chiều, đa chiều, là nói tới tinh thần “hoài nghi khoa học”. Tinh thần “hoài nghi khoa học” cho phép một cá nhân thách thức tính đúng đắn của bất kì luận điểm, chủ thuyết nào. Một cá nhân có tinh thần và thái độ khoa học luôn đặt câu hỏi trên những gì đang có, rồi đề ra giả thuyết giải thích, vạch ra chương trình thí nghiệm hay thăm dò dư luận tìm xem giả thuyết đó đúng hay sai. Nếu giả thuyết đó đúng, nhà khoa học đóng góp vào sự tiến bộ của tri thức. Bản chất của khoa học là bản chất đa nguyên. Độc quyền tư tưởng là phản khoa học. Cấm đoán đa nguyên là phản khoa học. Bắt mọi người theo một triết thuyết và chỉ triết thuyết đó thôi là phản khoa học.

Nền Văn Hóa của Việt Nam hiện nay phản khoa học, phản tiến bộ, do đó không Tiên Tiến.

Nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

Nước Việt Nam thuộc nhóm các nước Đông Nam Á, nền văn minh lúa nước nên có văn hóa trồng trọt, lối sống định cư, tâm lý cộng đồng nghiêng hơn về hướng nội, trọng tĩnh (so với văn hóa chăn nuôi du mục, du cư, nghiêng hơn hướng ngoại, trọng động) [xem: Trần Ngọc Thêm. Tìm Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam. Chương 2: Loại Hình Văn Hóa]. Nền văn hóa này, do nếp sống quần cư ổn định từ rất sớm, có đặc trưng nổi bật là cấu trúc làng xã, xây dựng nên “Tình Làng Nghĩa Xóm”. Trong các bậc thang giá trị tinh thần của nếp sống làng xã đó, người Việt đề cao chữ Nhân, kết hợp chặt chẽ Nhân với Nghĩa, Nhân với Đức. “Có Đức mặc sức mà ăn” hay “Kiến Nghĩa bất vi vô dõng giả”…

Người Việt nâng tục “Thờ Cúng Tổ Tiên” lên hàng tôn giáo: Đạo Thờ Ông Bà (3). Từ góc độ này, chữ Hiếu rất được coi trọng, “Công Cha như núi Thái sơn, Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn đổ ra, Một lòng thờ Mẹ kính Cha, Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.

Từ khi Ngô Quyền dựng nền độc lập tới nay, Trung Hoa đã chín lần đem quân xâm chiếm ta. Việc liên tục phải chống Trung Hoa đã tạo một đặc trưng văn hóa nổi bật của Việt Nam là tư tưởng chống ngoại xâm “giặc tới nhà đàn bà cũng đánh”. Giặc đây là bất cứ kẻ xâm lăng nào, hễ chiếm đất, chiếm nước, chiếm đảo ta đều là giặc. Từ thế kỉ thứ XIX trở đi, Việt Nam bị Pháp xâm chiếm. Tuy nhiên, Pháp ở xa, và với phong trào giải thực trên thế giới sau thế chiến thứ 2, sẽ không còn một quốc gia Tây phương nào tới xâm chiếm ta nữa. Trái lại, việc Trung Hoa xâm chiếm vừa là nguy cơ ngàn đời, vừa là nguy cơ trước mắt, ông cha chúng ta luôn nhắc nhở không được quên mối nguy này. Hiện nay, các quốc gia hùng mạnh như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… đã đạt trình độ văn minh vượt lên trên các quan niệm cũ kĩ lấn chiếm đất đai, tranh giành cai trị. Họ đang sống hợp tác và cạnh tranh bằng các biện pháp “mềm” (văn hóa, chính trị, giáo dục…). Trung Hoa, trái lại, vẫn còn ở trình độ dùng các biện pháp quân sự “cứng” lấn át và xâm chiếm lân bang, một quan niệm ngoại giao chiếm đất rất lỗi thời. Cho nên dân ta càng nên giữ gìn truyền thống văn hóa “chống ngoại xâm” để giữ độc lập và tự chủ nhằm xây dựng một một nước Việt Nam dân chủ, văn minh, cường thịnh.

Như vậy tóm lại, “nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” Việt Nam phải tôn quí các giá trị sau: a) Tình Làng Nghĩa Xóm kết hợp với Nhân Nghĩa, Nhân Đức, b) Chữ Hiếu quyện trong Đạo Ông Bà, c) Lòng Yêu Nước quyện với tinh thần Chống Ngoại Xâm.

Trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở Bắc Việt, nơi có văn hóa làng xóm vững chắc và đặc trưng nước ta, bà con được chính quyền tổ chức tố cáo, nhục mạ và giết nhau một cách dã man trước mắt toàn thể dân làng già trẻ gái trai và cả lứa tuổi nhi đồng! Khoảng 160-180 ngàn người chết trong các cuộc đấu tố tàn bạo.

Con cái gọi cha mẹ là mày, tố cáo cha mẹ trong các buổi đấu tố. Con cái “thành khẩn” nói xấu cha mẹ trong các bản kiểm điểm cách mạng.

Trong xã hội hiện nay, không còn hiếm nữa các hiện tượng con giết cha, giết mẹ, giết anh em, giết ông bà vì xin tiền không được, vì tranh giành tài sản, vì bị trách mắng, vì say, vì nóng giận; bạn bè giết nhau, người yêu giết nhau rồi phân thây ra nhiều mảnh bỏ từng góc phố; tài xế đụng người bị thương thì cố ý cán lên mình cho nạn nhân chết luôn để khỏi trả tiền nằm bịnh viện cho nạn nhân; cướp bóc giết người tràn lan…

Nguy cơ Trung Hoa thống trị Việt Nam ngày càng rõ rệt. Trung Hoa xua quân vào lãnh thổ Việt Nam giết gần trăm ngàn dân chúng, chiến sĩ Việt Nam. Trung Hoa xua quân chiếm đảo Việt Nam, giết gần trăm chiến sĩ hải quân Việt nam. Trước hoàn cảnh đó chính quyền lại gởi công hàm dâng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Hoa; bí mật họp với Trung Hoa tại Thành Đô hứa hẹn nhượng bộ chủ quyền thêm nữa cho họ; bào chữa cho các hành động dã man của giặc, xóa đi chứng tích chiến tranh của giặc còn tươi máu trên tấc đất và kí ức người dân; đàn áp tàn nhẫn các cuộc biểu tình ôn hòa trong nước phản đối Trung Hoa xâm lược; công khai xem giặc đang lấn chiếm biên cương là bạn…

Rõ ràng, trong xã hội Việt Nam hiện nay, các giá trị Tình Làng Nghĩa Xóm, Nhân Nghĩa, Nhân Đức, lòng Tôn Kính Tổ Tiên, Hiếu Để với Cha Mẹ, Lòng yêu Nước và Tinh Thần Chống Ngoại Xâm… đã bị tàn phá nặng nề, tàn phá tận gốc rễ. Các lời nói của giới cầm quyền về những giá trị truyền thống kể trên chỉ còn là những lời chót lưỡi đầu môi!

Người viết vẫn tin rằng các giá trị văn hóa Việt Nam vẫn còn bền chặt nơi tầng sâu tinh thần, phong tục, tập quán, tín ngưỡng… của dân tộc. Tuy nhiên, rất nhiều biểu hiện cho thấy các giá trị bị đảo lộn, bóp méo hay đánh tráo. Nếu người Việt không đấu tranh để bảo tồn, dưỡng nuôi, phát triển các giá trị đó, thì tới một ngày không xa có thể chúng ta sẽ mất tất cả.

Rõ ràng nền văn hóa chính thống trong xã hội Việt Nam hiện nay là văn hóa mất gốc, xa lạ với truyền thống dân tộc.

TÓM LẠI:

Nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 2 tiêu chí của đặc trưng thứ ba làcó nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Và cũng không đạt tiêu chí nào trong 2 tiêu chí của đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

—————-

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Hữu Nghĩa. “Những Đặc Trưng Thể Hiện Tính Ưu Việt Của Chủ Nghĩa Xã Hội Mà Nhân Dân Ta Đang Xây Dựng”, Tham Luận tại tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.
  2. Bùi Minh Huệ. Tính Dân Tộc, Khoa Học, Đại Chúng Của Văn Hóa.http://baohatinh.vn/news/van-hoa-nghe-thuat/tinh-dan-toc-khoa-hoc-dai-chung-cua-van-hoa/72094.
  3. Bộ Văn Hóa Thông Tin. Nền Văn Hóa Việt Nam Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc. Vietnam+. 01/03/2010

http://hanoi.vietnamplus.vn/Home/Nen-van-hoa-Viet-Nam-dam-da-ban-sac-dan-toc/20103/422.vnplus

  1. Trần Đình Hượu. Đặc Sắc Văn Hóa Việt Nam.http://huc.edu.vn/chi-tiet/451/Dac-sac-van-hoa-Viet-Nam.html

—–ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM – Bài 4

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Bài 4: Cái Nhìn Tổng Quát Về Tám Đặc Trưng

Trần Quí Cao

20-11-2014

Trong ba bài trước, chúng ta đã cùng xem xét các thành quả đã đạt được theo các tiêu chí của đặc trưng thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư (1). Và chúng ta cũng đã thấy nước Việt Nam không đạt được một tiêu chí nào của các đặc trưng nói trên. Nếu phân tích từng tiêu chí cho 4 đặc trưng còn lại, chúng ta cũng sẽ thấy thành quả đạt được rất kém.

Mục tiêu của bài này là phân tích nhanh về đặc trưng thứ 5 và đặc trưng thứ 7, để từ mở đầu đó, trình bày một cái nhìn tổng quát về tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà đảng Cộng Sản đang ép dân chúng phải xây dựng theo ý muốn riêng của đảng.
Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện

Ấm No: Dân không giàu sao cuộc sống có thể ấm no? Và càng không thể ấm no khi sự phân phối của cải trong xã hội quá thiếu công bằng như đã thấy trong đánh giá về đặc trưng thứ nhất.

Hãy về nông thôn nhìn hàng vạn gia đình cha mẹ nắng mưa, con cái nheo nhóc, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 1,5 triệu/gia đình, hãy nhìn hàng trăm lượt người hằng ngày vượt sông bằng dây đu đánh cuộc với tính mạng; hãy quay lại thành phố ngồi ở một quán cà-phê vĩa hè để thấy hàng trăm lượt người tới van vỉ mua một tấm vé số, một cái bánh tráng nướng; hãy đến các khu nhà trọ không xa trung tâm Tp HCM, trong đó mỗi gia đình 3-4 người chen chúc trên 6-8 mét vuông, hàng chục gia đình dùng chung một nhà vệ sinh; hãy nhìn cảnh nhếch nhác đói nghèo ngay trung tâm hay rất gần trung tâm thành phố…

Tự Do: Nước Việt Nam bị đặt dưới một chính thể độc tài, không có tự do. Và số rất đông dân chúng thì nghèo khổ. Chính thể đã không có tự do, cuộc sống cá nhân lại bị trói trong vòng nghèo đói, làm sao cuộc sống có tự do?

Có Điều Kiện Phát Triển: Kinh nghiệm thế giới chỉ rằng chỉ có xã hội dân chủ tự do mới có tính khai phóng, do đó mới tạo điều kiện phát triển toàn diện cho người dân. Không ai có thể phát triển toàn diện trong điều kiện mất tự do. Hơn nữa, mất cả tự do tìm tòi học hỏi và suy nghĩ vì bị bịt mắt bởi dãy khăn đen dầy của chủ nghĩa xã hội.

Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Hai mươi bốn chữ diễn tả đặc trưng thứ bảy này chứa các mâu thuẫn không thể dung hòa nhau được.

Mâu thuẫn nội tại của cụm từ: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nhà nước pháp quyền: là nhà nước ít nhất phải có hai đặc trưng: các cá nhân, các pháp nhân bình đẳng trước pháp luật, và Tam Quyền Phân Lập (2).

xã hội chủ nghĩa: khi có tính từ này, có nghĩa là: a) Chỉ có một đảng chuyên chính, nghĩa là độc tài, và kèm theo nó là toàn trị. Từ đó không hề có bình đẳng trước pháp luật. Người đảng viên, trên thực tế, khi chưa bị đảng khai trừ thì không thể bị đưa ra xét xử, và b) Không có Tam Quyền Phân Lập.

Có nghĩa là một đảng cai trị trên tất cả các mặt của chính quyền, cả Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp. Và quốc gia cũng cũng chỉ có một đảng này chớ không có một đảng đối lập hay cạnh tranh nào hết.

Vậy thì hai tính từ Pháp Quyền và Xã Hội Chủ Nghĩa, khi dùng chung để bổ nghĩa cho danh từ Nhà Nước, là hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Không khác gì mâu thuẫn giữa Dân Chủ với Không Có Tự Do.

Và như vậy thì rõ ràng không thể có một Nhà Nước vừa có tính cách Pháp Quyền vừa có tính cách Xã Hội Chủ Nghĩa, hay không thể có một Nhà Nước Pháp Quyền có tính cách Xã Hội Chủ Nghĩa.

Mâu thuẫn nội tại của cụm từ: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo

Đã nói Nhà Nước của Nhân Dân thì Nhân Dân có quyền tối thượng. Khi Nhân Dân không muốn nhà nước của mình bị đảng Cộng Sản lãnh đạo thì giải quyết như thế nào? Muốn biết rõ ý dân, phải Trưng Cầu Dân Ý. Các chủ trương, chính sách lớn như sửa đổi Hiến Pháp, sở hữu đất đai toàn dân, định hướng xây dựng và phát triển tổ quốc… được soạn thảo rồi thực thi vội vã, khuất tất, áp đặt mà không qua trưng cầu dân ý, bất chấp ý kiến phản đối của các thành phần khác nhau trong dân chúng, cho thấy rõ thực chất nhà nước này là nhà nước của đảng, không phải của dân.

Đã nói Nhà Nước do Nhân Dân thì Nhân Dân phải có quyền chọn người mình tin yêu, tín nhiệm làm thành viên nắm các vị trí chủ chốt của nhà nước. Việc ứng cử và bầu cử được tổ chức theo cách đảng cử là hoàn toàn tước đi của Nhân Dân quyền chọn người lãnh đạo. Nhà nước này thực chất là nhà nước do đảng Cộng Sản sắp đặt, không phải do dân bầu chọn ra.

Nhà nước của đảng, do đảng thì nhà nước đó vì dân hay vì đảng? Hiện nay lòng dân và ý đảng đã rất xa nhau. Dân muốn xây dựng chính thể theo hướng Dân Chủ Tự Do và Pháp Trị, đảng Cộng Sản Việt Nam kiên quyết bảo vệ chính thể Độc Đảng Độc Tài và Toàn Trị. Dân muốn bỏ điều 4 Hiến Pháp, đảng kiên quyết giữ lại. Dân muốn Đa Nguyên, đảng muốn Nhất Nguyên, áp đặt chủ nghĩa Cộng sản trên toàn dân tộc. Dân muốn quốc gia tự chủ, không bị lệ thuộc vào Trung Cộng, đảng muốn trói buộc Việt Nam vào vòng ảnh hưởng của Trung Cộng. Dân uất ức nhìn Trung Cộng xâm lấn đất liền biển đảo, xây dựng căn cứ quân sự trên mảnh đất, mà nó mới giết dân chiếm lấy hôm qua, để làm đà uy hiếp toàn bộ nước Việt Nam, đảng xun xoe xem giặc dữ là bạn, rước giặc dữ vào nhà, nhượng thêm chủ quyền cho giặc và đàn áp tàn nhẫn những thành phần dân chúng muốn Việt Nam tự chủ…

Những gì đã xảy ra từ năm 1975 liên tục tới hôm nay cho thấy khi lòng dân và ý đảng khác nhau, Nhà nước chỉ chọn giải pháp vì quyền lợi đảng. Việc sửa đổi Hiến Pháp trong năm 2013 là một thí dụ rõ ràng cho thấy nhà nước này không vì dân, chỉ vì đảng. Do đó không thể có Nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo mà lại của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Cái Nhìn Tổng Quát Về Tám Đặc Trưng

Như vậy, qua các từng tiêu chí của 6 đặc trưng đã phân tích, có thể tóm tắt rằng nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 6 đặc trưng 1, 2, 3, 4, 5 và 7. Thật ra thì cả 8 đặc trưng đều không đạt được cả. Tại sao vậy?

Bởi vì các tiêu chí đó chỉ là khẩu hiện sáo rỗng, rất xa cách với thực tế. Chắc chắn rằng ngoại trừ một con số rất rất ít, đại đa số dân chúng Việt Nam, kể cả các đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam, không ai tin rằng xã hội Việt Nam hiện nay là Dân Chủ, Công Bằng, Văn Minh (đặc trưng thứ nhất) hay Do Nhân Dân Làm Chủ (đặc trưng thứ hai), trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện (đặc trưng thứ 5). Cũng không ai tin rằng quốc gia của mình có Nhà Nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Nhưng, hơn cả sáo rỗng, các đặc trưng trên mâu thuẫn nhau, hay các tiêu chí trong một đặc trưng mâu thuẫn nhau. Và đây là mâu thuẫn loại trừ, nghĩa là có cái này thì không thể có cái kia. Nói một cách khác, cái này diệt cái kia.

Các bài trước và phần trên của bài này đã đề cập tới một số mâu thuẫn loại trừ trong tám đặc trưng này. Nếu đi tới tận cội nguồn, ta sẽ thấy cái mâu thuẫn chung nhất, cái mâu thuẫn là nguồn gốc của các mâu thuẫn loại trừ khác chính là mâu thuẫn giữa:

Dân Chủ, Tự Do và Pháp Trị với Độc Đảng, Độc Tài và Toàn Trị

Trong tám đặc trưng trên, có những tiêu chí mà nhiều nước theo thể chế Dân Chủ, Tự Do và Pháp Trị đã đạt, dân chúng các nước đó từ lâu đã được hưởng như một quyền tự nhiên của con người sinh ra là có. Các quốc gia đó có nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dân chúng thực sự là Chủ Đất Nước sống trong xã hội Dân Chủ, Công Bằng, Văn Minh, trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Tại sao sau 39 năm kêu gọi toàn dân góp sức, trong vận hội hòa bình với các thời cơ phát triển rộng mở, nước Việt Nam không đặt được tiêu chí nào trong các tiêu chí đó?

Bởi vì chính thể Độc Đảng, Độc Tài và Toàn Trị đã loại trừ, tiêu diệt các nguồn lực quan trọng của dân tộc để xây dựng và phát triển. Không chỉ tiêu diệt nguồn lực hữu hình và vô hình thông thường, nó còn tiêu diệt cả ước mơ sống và phát triển của một phần lớn dân chúng.

Sau năm 1975, các chính sách bỏ tù công chức và quân nhân chế độ Sài Gòn, triệt hạ tư sản miền Nam, triệt hạ giới công thương nghiệp, đẩy dân thành phố về vùng kinh tế mới, chế độ lí lịch nghiệt ngã trong tuyển sinh đại học… là những thí dụ cho thấy tính loại trừ, tiêu diệt đó.

Các cuộc di tản của hàng triệu người Việt Nam đánh đổi sinh mạng cả gia đình mình nhắm đào thoát khỏi chế độ này những năm 1979-1983 là một thí dụ khác.

Những cơ hội cực kì lớn lao cho sự phát triển đất nước những năm 1978 (tái lập bang giao với Hoa Kì), 1990 (đưa đất nước vào hội những quốc gia tự do dân chủ văn minh giàu mạnh)… bị bỏ lỡ không hối tiếc là thí dụ khác.

Sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Cộng, cực kì nguy hiểm cho sự tồn vong của tổ quốc, là một thí dụ khác nữa.

Trong 40 năm, đã tận diệt bao nhiêu nguyên khí tổ quốc, bao nhiêu cơ hội phát triển? đã tròng lên đầu dân tộc này bao nhiêu nguy cơ?

Đó chính là nguồn gốc của vô vàn thất bại đắng cay của dân tộc!

————————–

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Lê Hữu Nghĩa. “Những Đặc Trưng Thể Hiện Tính Ưu Việt Của Chủ Nghĩa Xã Hội Mà Nhân Dân Ta Đang Xây Dựng”, Tham Luận tại tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.
  2. Pháp Quyền.http://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C%Áp_quy%É%BB%81n

Wikipedia. Rule Of Law – http://en.wikipedia.org/wiki/Rule_of_Law

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: