Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó

– Bài 1: Văn sư.

Nguồn Basam

Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó  –  Bài 1: Văn sư.

Nguyễn Tiến Dân

27-10-2014

Đôi lời của tác giả: “Lục thao”, là 1trong “7 bộ Binh pháp kinh điển” của Trung hoa cổ đại (Võ kinh thất thư). Không dừng lại, ở việc luận binh. “Lục thao”, còn dạy các bậc Đế vương, cách trị nước – an dân. Đọc “Lục thao”, ta sẽ hiểu, vì sao các thể chế Dân chủ, trường tồn và ngày càng phát triển bền vững. Tại sao, các thể chế độc tài, ngày càng thưa hiếm và suy vong. Ngẫm vào thực trạng của Đất nước, ta sẽ thấy, tương lai của đảng CS Việt nam, “tươi sáng” đến mức nào.

Xin lần lượt, giới thiệu “Lục thao”, với bạn đọc.                                                            

VĂN SƯ 

Thiên này, thuật chuyện gặp nhau lần đầu, giữa Chu Văn vương và Khương Tử nha. Chu Văn vương, là vị Vua, giỏi đến mức, có thể đặt lời thoán, chú thích cho “Chu dịch”. Nhưng, chưa bao giờ vỗ ngực, tự cho rằng, mình là “đỉnh cao trí tuệ của Nhân loại”. Vì đại nghiệp diệt Thương, ông xuống mình, “cầu hiền như khát”. Khương Thái công, hung hoài thao lược. Chỉ hận, chưa gặp được minh chủ. Bèn về chốn sơn cùng – thủy tận, câu cá – đợi thời.

Chí lớn, gặp nhau. Bởi thế, sơ kiến mà đã như cố tri. Hai người, thảo luận sách lược thu phục thiên hạ. Mục tiêu và các biện pháp thi hành. Họ, dùng ngay việc câu cá, làm đề tàì, để triển khai thảo luận.

Biết Văn vương còn do dự, bởi nhà Thương quá mạnh. Khương Thái công, ngầm chi rõ: Đó chỉ là, cái mẽ ngoài. Sự thực, Thương triều đã mục ruỗng, đến tận xương – tận tủy. Nhà Chu, nên thừa cơ, mà đoat thủ thiên hạ. Muốn thu phục được Thiên hạ, phải có người đứng đầu, để tập hợp quần chúngNgười này, phải có đầy đủ cả Nhân – Đức – Nghĩa – Đạo. Những phẩm chất này, Trụ vương của nhà Thương không có. Trong khi, Văn vương đủ đầy.

Hai người, đồng quan điểm: Đất nước, phải là của Nhân dân (Dân chủ) và phải để cho mọi người, được “Ngôn luận tự do”.

文师

文王将田,史编布卜曰:“田于渭阳, 将大得焉. 非龙, 非螭, 非虎, 非羆,兆得公侯. 天遗汝师, 以之佐昌, 施及三王”。Văn vương tương điền, sử Biên bố bốc viết : “Điền vu Vị dương, tương đại đắc yên. Phi long, phi li, phi hổ, phi bi, triệu đắc công hầu. Thiên di nhữ sư, dĩ chi tá xương, thi cập tam vương”

Văn vương muốn đi săn. Ngài sai sử Biên, đoán cát hung. Sử Biên gieo quẻ, rồi bẩm lại: “Đến bờ bắc của sông Vị thủy,  Đại vương sẽ thu hoạch được rất lớn. Không phải được rồng, đươc li (Theo truyền thuyết, giống như rồng, sắc vàng, không có sừng), không phải được hổ, được gấu. Điềm báo, đươc công hầu, mà trời dành riêng, để làm quân sư cho Đại vương. Vị công hẩu này, sẽ giúp Đại vương, hưng nghiệp tận ba đời”

文王曰: “兆致是乎?”  Văn vương viết: “Triệu chí thị hồ”

Văn vương hỏi: “Điềm tốt đến thế sao ?”

史编曰: “编之太祖史畴为禹占, 得皋陶, 兆比于此” . Sử Biên viết : “Biên chi Thái tổ sử Trù, vi Vũ chiêm, đắc Cao Đào. Triệu tỉ vu thử”

Sử Biên đáp: “Xưa, Thái tổ của thần là sử Trù, chiêm bốc cho vua Vũ. Quẻ ấy, báo đươc quý nhân Cao Đào. Điềm hôm nay, giống như vậy”

文王乃斋三日, 乘田车, 驾田马, 田于渭阳, 卒见太公, 坐茅以渔 . Văn vương nãi trai tam nhật, thừa điền xa, giá điền mã, điền vu Vị dương. Tốt kiến Thái công, tọa mao dĩ ngư

Mừng quá, Văn vương bèn trai giới ba ngày. Sau đó, sai sửa soạn loan giá (xe Vua), để ông mang đi đón hiền tài, ở bờ bắc của sông Vị thủy. Đến đó, ngài thấy Thái công, đang ngồi trên đám cỏ lau um tùm, để câu cá. Lưỡi câu đã thẳng, không mắc mồi, lại còn để trên  mặt nước. Tai lắng nghe chim hót, mắt nhắm nghiền suy tư.

文王劳而问之, 曰: “子乐渔耶?” . Văn vương lao nhi vấn chi, viết: “Tử lạc ngư da”

Thấy lạ, Văn vương xuống ngựa. Lệnh cho tùy tùng đứng ngoài. Ngài vất vả, tự tay rẽ cây mở đường, vào để gặp Thái công. Gặp rồi, mới hỏi thăm rằng : “Ông lão, ông thích câu cá theo kiểu gì, mà lạ vậy ?”

太公曰: “臣闻君子乐得其志, 小人乐得其事”. Thái công viêt: “Thần văn quân tử lạc đắc kì chí, tiểu nhân lạc đắc kì sự”.

Thái công đáp: “Thần nghe, người quân tử, chỉ mãn nguyện, khi thỏa được chí của minh. Kẻ tiểu nhân, chỉ vui, khi được việc của mình”.

Sinh thời, trung tướng Trần Độ, “Những mơ xóa ác ở trên đời”. Cho nên, nguyện “phó thân cho đất trời”, để đi làm “cách mạng”. Đất nước đã thống nhất. Nhưng, nhận thấy: Dưới chế độ mới, cái ác, không có bị mất đi. Nó lại luân hồi. Chí chưa thỏa. Ông tiếp tục đấu tranh. Cho dù, bị mất hết mọi quyền lợi của cá nhân. Thật là, 1 vị Chính nhân – Quân tử.

Đối nghịch với Trần Độ. Biết bao nhiêu kẻ, sẵn sàng, làm những việc táng tận lương tâm. Miễn sao, chúng giữ được, cái ghế quyền lực của mình.

今吾渔甚有似也, 殆非乐之也 . Kim ngô ngư thậm hữu tự dã, đãi phi lạc chi dã.

Nay, thần ngồi câu cá ở đây, cũng vậy. Mệt mỏi và không vui thú gì, với việc đi câu.

文王曰: “何谓其有似也?”.  Văn vương viết: “Hà vị kì hữu tự dã?”

Văn vương hỏi: “Sao lại cho rằng, có sự giống nhau ở đây?”

太公曰: “钓有三权, 禄等以权, 死等以权, 官等以权”. Thái  công viết : “Điếu hữu tam quyền: Lộc đẳng dĩ quyền – Tử đẳng dĩ quyền – Quan đẳng dĩ quyền”

Thái công trả lời : “Những tay câu thiện nghệ, đều hiểu: Muốn câu cá gì, phải sắm thính – luyện mồi, cho phù hợp với sở thích của loài cá đó. Thánh nhân, chiêu nạp hiền tài, giúp mình mưu việc lớn, cũng phải làm như vậy :

+Có kẻ theo ta, mong hưởng bổng lộc. Hãy lấy nhà đất, lương bổng, sổ hưu ra, mà chiêu dụ nó.

+Có người theo ta, để giúp dân – cứu nước. Gian khó, họ không sờn lòng. Hi sinh, họ không quản ngại. Hãy khắc thẻ tre, lưu danh họ vào lịch sử. Hãy lập đền thờ, để dân chúng, muôn đời hương khói cho họ. Người đã khuất rồi. Nhưng vợ con họ, vẫn còn đó. Nhớ thay mặt người ta, mà chăm sóc cha me – vợ con họ, cho đàng hoàng – tử tế. Chớ nói đãi bôi – Đừng làm lấy lệ.

+Lại có người, nghiện quyền lực, mà đi theo ta. Hãy lấy chức tước, mà ban cho họ.

, thì cho làm đội trưởng đội thiếu nhi. Lớn, hãy lấy lon thượng – đại tướng ra, mà phong bừa phứa cho họ. Hãy lấy nhôm mỏng, dập thànhhuân – huy chương, rồi gắn chi chit lên ngực họ. Già rồi, cũng phải dựng lên những hội hữu danh – vô thực như: hội khuyến họchội bảo vệ người tiêu dùng … rồi ấn họ vào đấy. Loại này, ngồi không dễ sinh tật. Nhưng chớ trao quyền lực, để chúng phục vụ nhân dân, cho đến “hơi thở cuối cùng

夫多久以求得也, 其情深, 可以观大矣 . Phù đa cữu dĩ cầu đắc dã, kì tình thâm, khả dĩ quan đại hĩ

Người ta đi câu, lâu mau – nhiều ít, khoan hẵng nói. Nhưng, ai cũng mong được cá. Đó là, chân lí sâu xa .Từ việc ngồi câu cá, ta có thể, ngẫm ra nhiều việc lớn trong Thiên hạ.

文王 曰: “愿闻其情” . Văn vương  viết : “Nguyện văn kì tình”

Văn vương : “Xin rửa tai, lắng nghe”

太公曰: “源深而水流, 水流而鱼生之, 情也”. Thái công viêt: “Nguyên thâm nhi thủy lưu, thủy lưu nhi ngư sinh chi, tình dã”

Thái công chỉ dòng Vị Thủy, mà nói rằng: “ Đầu nguồn sâu, lưu vực rộng thì con sông đầy nước. Sông đầy, thì đưa dòng phù sa, đi nuôi dưỡng, cho những cánh đồng phì nhiêu. Đưa nguồn thức ăn dồi dào, đi nuôi dưỡng các loài cá tôm. Khiến chúng sinh sôi – phát triển. Đó là, lý Tự nhiên”.

根深而木长, 木长而实生之,情也 . Căn thâm nhi mộc trường, mộc trường nhi thực sinh chi, tình dã

Ngài chỉ 1 cây cao, trên bờ Vị Thủy, mà tiếp rằng: “Rễ có sâu, thì cây mới có thể vươn cao. Cây càng vươn cao, thì lượng gỗ sinh ra càng nhiều. Đó là, lý Tự nhiên”.

Cây có bộ dễ chùm, càng cố vươn cao, càng dễ bị bão quật ngã. Những chính thể, không bám rễ được vào cuộc sống, càng “phát triển nóng” bao nhiêu, càng chóng sụp đổ bấy nhiêu. Đó cũng là, lý Tự nhiên.

君子情同而亲合, 亲合而事生之, 情也. Quân tử tình đồng nhi thân hợp, thân hợp nhi sự sinh chi, tình dã.

Chậm rãi nhìn Văn vương, Thái công nói tiếp: “Những người Quân tử, họ có lí tưởng tương đồng. Những cách biệt về địa lí, những khác biệt về xuất thân, không thể ngăn được họ kết thân với nhau. Kết thân được với nhau, họ sẽ phát huy được thế mạnh của mỗi người. Nhân dân và Đất nước, đang chờ những quyết sách của họ. Đó là, Chân lí”.

言语应对者, 情之饰也 . Ngôn ngữ ứng đối giả, tình chi sức dã.

Trong một cộng đồng, lời ta nói ra, nhiều người hiểu. Nhưng nỗi lòng ta, mấy ai biết cho. Bởi vậy, người ta phải dùng ngôn ngữ – chữ viết, để biểu đạt tình cảm.

言至情者, 事之极也 . Ngôn chí tình giả, sự chi cực dã.

Lời nói chí tình, bao giờ cũng xuất phát từ trái timNgười ta dùng nó, để góp ý chân thành với nhau. Lời nói chí tình, có thể, đẩy sự việc, đi theo hai hướng trái ngược nhau:

+Gặp những người nhỏ nhen, họ sẽ ghét ta. Bởi, họ cho rằng, ta cố tình bới móc, dạy khôn, đố kị và nói xấu họ. Ai đã từng góp ý (phản biện) về bô xit, về xây mới tòa nhà quốc hội, về điện hạt nhân…chắc thấu hiểu điều này.

+Gặp những người đại lượng, họ sẽ cảm ơn ta. Bởi, ta làm cho họ, tỉnh táo nhìn lại mình. Gạn đục – Khơi trong, họ sẽ không mắc, những sai lầm ngớ ngẩn. Không có tấm gương, ai mà nhìn thấy vết nhọ, ngay trên trán của mình? Không cám ơn tấm gương, sao được.

今臣言至情不讳, 君其恶之乎? Kim thần ngôn chí tình bất húy, quân kì ố chi hồ?

Nay, thần sẽ nói, những lời chí tình, không kiêng nể. Đại vương, có muốn nghe không ? Nghe rồi, có truy chụp thần không ?

(Ngay từ đầu, Khương Tử Nha đã đề xuất với Văn vương: Hãy để cho những người xung quanh, được nói thẳng chính kiến của mình. Nói cách khác, hãy để cho họ, được Tự do ngôn luận. Không biến họ, thành những con vẹt. Nói những lời, không phải suy nghĩ thực của lòng mình).

文王曰: “惟仁人能受直谏, 不恶至情. 何为其然”. Văn vương viết: “Duy nhân nhân năng thụ trực gián, bất ố chí tình. Hà vi kì nhiên?”

Văn vương nói: “Chỉ những người nhân nghĩa, mới có khả năng tiếp thu, những lời can gián ngay thẳng – chân thành. Họ đâu ganh ghét, đố kị với những người khuyên can họ. Đó, chẳng phải là lẽ tự nhiên ư?”

太公曰: “缗微饵明, 小鱼食之”. Thái công viết: “Mân vi nhĩ minh, tiểu ngư thực chi”

Thái công trả lời: “Dùng chỉ làm dây câu – dùng hạt cơm làm mồi. Người ta, chỉ câu được cá thầu dầu, thòng đong, cân cấn. Giỏi lắm, thì được con cá mài mại”.

缗调饵香, 中鱼食之 .  Mân điều nhĩ hương, trung ngư thực chi.

Dùng cước làm dây câu – dùng giun làm mồi. Người ta, có thể câu được cá trê – cá chép.

缗隆饵丰, 大鱼食之.  Mân long nhĩ phong , đại ngư thực chi.

Dùng cáp lụa làm dây câu – dùng con chó, con vịt làm mồi. Người ta, có thể ra khơi, mà câu cá mập – săn cá sấu.

夫鱼食其饵, 乃牵于缗.  Phù ngư thực kì nhĩ, nãi khiên vu mân.

Con cá kia, tham mồi. Nên, bị trói buộc, bởi dây câu.

人食其禄, 乃服于君.   Nhân thực kì lộc, nãi phục vu quân.

Con người ta, ăn lộc của Nhà nước, nên phải phục vụ Vua.

故以饵取鱼, 鱼可杀 . Cố dĩ nhĩ thủ ngư, ngư khả sát

Dùng mồi đi câu, ta có thể bắt được cá.

以禄取人, 人可竭.  Dĩ lộc thủ nhân, nhân khả kiệt.

Dùng bổng lộc đãi người. Người ta, có thể tận tâm – kiệt lực với ta .

以家取国, 国可拔.  Dĩ gia thủ quốc, quốc khả bạt.

Làm cho vài kẻ có chức – có quyền, ở cái nước man di – mọi rợ kia, được “vinh thân – phì gia”. Nước ấy, chiếm dễ như bỡn. (Nhưng, có giữ được hay không, lại là chuyện khác hẳn) .

以国取天下, 天下可毕  Dĩ quốc thủ thiên hạ, thiên hạ khả tốt

Đem quyền lợi của nước này, dâng cho nước khác. Đem tử huyệt của nước nọ, nói với nước kia. Rồi xúi giục, xúc xiểm chúng đánh nhau. Đã đánh nhau, là sứt đầu – mẻ trán, là kiệt quệ. Khi kiệt quệ, tất phải nhờ ta, đứng ra dàn xếp. Việc thiên hạ, do ta dàn xếp. Thiên hạ ấy, không phải của ta, thì hỏi rằng: Thiên hạ ấy, là của ai?

Nhớ khi xưa:

Trung cộng, xua quân đánh chiếm Hoàng sa của Việt nam. Tàu chiến của Đệ thất Hạm đội, đã lừng lững tiến vào, định can thiệp. Ta biết rất rõ: Chỉ cần, có sự hiện diện của Hải quân Hoa kì (không cần họ nổ súng), “ bố bảo”, Trung cộng cũng không bao giờ, dám đánh chiếm Hoàng sa. Nhưng cuối cùng, tàu chiến Hoa kì, được lệnh rút ra. Để mặc đồng minh VNCH, chiến đấu anh dũng trong tuyệt vọng. Và để mất Hoàng sa. Hoa kì, không đến nỗi, “Giữa đường, thấy sự bất bình, chẳng tha”. Họ cũng thừa biết, cái giá phải trả, cho việc đánh mất chữ tín, khi bỏ mặc đồng minh.

Nhưng ở đây, họ có chủ ý. Vì, đó là bài “Vứt xương, cho sư tử cắn nhau”. Hoàng sa, rõ ràng không phải của Mĩ. Nhưng miếng mồi này, lại được Mĩ, sử dụng 1 cách cực kì thâm – hiểm :

+Trung quốc, chẳng có chứng cớ pháp lí vững chắc nào, để khẳng định, Hoàng sa là của họ. Phi nghĩa, nhưng lại cướp được Hoàng sa, 1 cách quá dễ dàng.Trung cộng, làm gì mà không biết, có sự tiếp tay của Hoa kì. Dĩ nhiên, phải chịu ơn họ. Chịu ơn Hoa kì, quà ra mắt: Chống LX mạnh hơn. Bức tường “đoàn kết” trong phe cộng sản, sẽ nứt thêm một mảng to tướng.

+Mâu thuẫn giữa giữa Việt nam DCCH và Trung quốc, từ nay, sẽ hết sức căng thẳng. Họ, sẽ luôn gầm ghè nhau. Sức mạnh của họ, bởi thế sẽ giảm đi đáng kể.

+Bắc Việt ở thế kẹt :

-Nếu không nói ra, sẽ bị hiểu là bán nước . Đồng thời, Trung quốc sẽ có cớ, để nói Hoàng sa là của họ

-Nói ra, Trung quốc chắc chắn cũng không hoàn trả Hoàng sa. Đã thế, còn mất đi viện trợ. Trong khi, Bắc Viêt đang hết sức cần đến nguồn viện trợ này . Để “giải phóng Miền nam – thống nhất Đất nước”.

-Hậu quả, Nhân dân Miền nam nói riêng và Nhân dân cả nước nói chung, mất đi thiện cảm, với chính phủ VNDCCH và Mặt trận DTGPMN.

Tình hình biển Đông, ngày càng phức tạp. Chứng tỏ, người Mĩ hết sức cao tay. Những con diều hâu ở Bắc kinh, đã tỏ ra hết sức sốt ruột. Chúng, liên tục gây hấn. Còn người Mĩ, dùng đúng bài của Trung cộng khi xưa: “Mi không đụng đến ta, thì ta cũng không đụng đến mi”. Và tuyên bố, đứng ngoài tranh chấp lãnh thổ. Sự thực, có phải như thế không? Ngàn lần Không. Hoa kì đang ung dung, chờ gặt hái thành quả của mình. Bắc kinh chưa nổ súng, nhiều nước đã xun xoe, chạy đến cầu cạnh Hoa kì. Trước kia, đuổi họ đi. Nay, năn nỉ, mời họ vào. Chỗ đứng chân của Hoa kì, trong Chiến lược toàn cầu, đã trở nên quá vững chắc. Chưa kể tình huống: Bắc kinh do bị ấm đầu, mà khai chiến ở Biển Đông. Họ chưa chắc, đã chiếm được Trường sa. Nhưng, có thể khẳng định, 1 cách chắc chắn rằng: Cả khu vực này, sẽ tình nguyện, xin nằm trong mặt trận chung, để chống Trung quốc. Tất nhiên, do Hoa kì đứng đầu. Tấm lưới, mà Hoa kì tung ra, để bao vây Trung quốc, đã dần được xiết chặt.

Đây có thể, được coi là, mẫu mực của sách lược “Dĩ quốc thủ thiên hạ”

呜呼, 曼曼绵绵, 其聚必散.  Ô hô,man man miên miên, kì tụ tất tán.

Ô hô, Thương triều kia, từ khi tụ nghĩa, để khởi binh – lập nghiệp đến nay, thời gian đã quá dài. Thành cao – hào sâu; binh hùng – tướng hổ, ăn thua gì. Chẳng qua, chỉ là cái mẽ ngoài. Thực chất, dân chúng ghê tởm, họ đang quay lưng – sĩ phu khinh bỉ, họ đã ngoảnh mặt. Xã hội thối nát – quan lại bạo tàn. Mục ruỗng, đến tận xương – tận tủy rồi. Đã đến lúc:

Mây tán   –  Tuyết tan  –  Hoa tàn   –  Trăng lặn .

嘿嘿昧昧, 其光必远.  Mặc mặc muội muội, kì quang tất viễn

Trong đêm đông âm u và lạnh lẽ, ánh hào quang, phát ra từ ngọn Hải đăng, sẽ được người ta, trông thấy từ rất xa. Giữa cái tối tăm – mù mịt đến mức đặc quánh của nhà Thương, với ánh hào quang, vừa mới nhen nhóm của nhà Chu. Không nói, Thiên hạ cũng biết, phải đi theo con đường nào.

微哉! 圣人之德, 诱乎独见. 乐哉! 圣人之虑, 各归其次, 而树敛焉 . Vi tai! Thánh nhân chi đức, dụ hồ độc kiến. Lạc tai! Thánh nhân chi lự, các qui kì thứ, nhi thụ liễm yên.

-Thánh nhân, chỉ có mỗi 1 cách, để thể hiện Đức hạnh của mình: Hãy làm, cho quần chúng thấy – Thấy rồi, người ta sẽ tin – Tin rồi, người ta sẽ yêu quí và kính trọng mình.

Xin hãy 1 lần, nghe theo lời khuyên của Tổng thống Việt nam Cộng hòa, ông Nguyễn Văn Thiệu. Để, nhìn vào việc làm của lãnh đạo CS:

Ông thì nhìn thấy sâu – mà không dám bắt. Ông thì nhìn thấy chuột – nhưng chẳng dám đập. Ông thì hứa: “không chống được tham nhũng, xin từ chức” – nhưng rồi thấy, ông xù. Ông Chủ tịch Quốc hội quyết sai – ông bắt Dân, phải chịu trách nhiệm thay mình.

Từ trên xuống dưới, rặt 1 loại võ mồm. Chuyên ăn tục – nói phét. Làm gì có Đức hạnh, mà bắt Dân tin.

-Thánh nhân, ngày đêm trăn trở. Sung sướng gì hơn, khi chứng kiến, dòng người trong Thiên hạ, lũ lượt đổ về theo mình. Nhân tâm tụ hợp. Đó là, điều kiện tiên quyết, cho việc “dựng công – lập nghiệp”.

文王曰: “立敛若何,而天下归之?”. Văn vương viết: “Lập liễm nhược hà, nhi thiên hạ qui chi?”

Văn vương hỏi: “Thánh nhân, phải tạo lập ở mình, những phẩm chất gì, khiến Thiên hạ, họ tự nguyện theo?”.

太公曰: “天下非一人之天下, 乃天下之天下也. Thái công viết: “Thiên hạ phi nhất nhân chi thiên hạ, nãi thiên hạ chi thiên hạ dã”.

Thái công đáp :  “Thiên hạ, không phải là của riêng của 1 người, hoặc là của riêng của 1 nhóm người.Thiên hạ, là của người trong Thiên hạ”. Nói cách khác, chính những người DÂN, đang sinh sống trên đó, mới là CHỦthể của Thiên hạ. Và, muốn thu phục được Thiên hạ, khoan hẵng nghĩ đến mình. Đầu tiên, phải học cách cúi đầu trước Thiên hạ.

Cách đây mấy nghìn năm, giữa thời phong kiến thối nát, luôn coi, Thiên hạ là của Vua. Khương Tử nha, đã nêu ra luận điểm, hoàn toàn trái ngược: “Thiên hạ là của Dân”. Thật là tuyệt vời. Rõ ràng, Khương Tử nha, đã đi trước thời đại. Nhà Chu, tiếp thu ý tưởng “Dân chủ” của Khương Tử Nha. Sửa đổi cho phù hợp và thi hành tốt điều này. Nên, tồn tại khoảng 800 năm (Lâu gấp 14 lần, so với Liên xô – “Thành trì” của phe XHCN)

同天下之利者, 则得天下 .  Đồng thiên hạ chi lợi giả, tắc đắc thiên hạ.

Ai, có khả năng, chia cho mọi người, cùng hưởng thụ nguồn lợi của Thiên hạ. Người đó, sẽ chiếm được Thiên hạ.

Ở các nước, theo thể chế Dân chủ, tiền thuế của dân, tiền bán tài nguyên…được công khai cho toàn dân biết. Được đưa vào quỹ an sinh xã hội. Người ta dùng nó, để chi trả cho Giáo dục, cho Y tế, cho Trị an, cho chăm sóc Môi trường…Vì thế: Trẻ con, đi học không mất tiền. Thất nghiệp, có Nhà nước trợ cấp. Đau ốm, được chăm sóc thuốc men cộng với tình thương mến. Nhân dân, yêu quí Nhà nước. Những Nhà nước ấy, sụp đổ sao được.

擅天下之利者, 则失天下 . Thiện thiên hạ chi lợi giả, tắc thất thiên hạ.

Ngược lại, nguồn lợi của Thiên hạ, mình khư khư độc chiếm. Chuyện mất Thiên hạ, chỉ là vấn đề thời gia .

Ông Saddam Hussein và ông Gaddafi đều có một điểm chung: Tất cả, mọi quyền lợi kinh tế – chính trị – văn hóa của đất nước, đều được đem gom hết vào mình, vào gia đình mình, vào cánh hẩu của mình.Tóm lại là độc tài. Kết quả: Không những mất Thiên hạ, mà bản thân ?

Một người, bị quần chúng tóm cổ, lôi ra khỏi ống cống. Van lạy, cũng không được tha. Giữa thanh thiên – bạch nhật, bị đập chết, một cách thê thảm. Xác, được trưng bày, trong lò mổ xúc vật.

Người kia, may mắn hơn chút xíu . Được đem ra xét xử, một cách đàng hoàng. Nhưng cuối cùng, đâu có thoát được, cái thòng lọng của giá treo cổ.

Đảng CS Việt nam, đâu có kém cạnh gì những ông đó. Quyền lợi của Đất nước, họ vơ hết vào lòng. Chính quyền, họ độc chiếm. Tương lai của họ, là con đường, mà 2 ông kia đã đi.

天有时, 地有财, 能与人共之者, 仁也. Thiên hữu thời, địa hữu tài. Năng dữ nhân cộng chi giả, NHÂN  dã.

Trời, cho con người ta thời cơ – Đất, cho con người ta sản vât. Biết đem chia những thứ đó, cho mọi người cùng hưởng. Thế mới là, có NHÂN.

Nói về tuyển chọn cán bộ. Ở Việt nam, không ai không biết đến “tứ ệ”: Hậu duệ (con ông cháu cha) – Tiền t – Quan h – Trí tu. Những người thực tài, họ rất ít có cơ hội, để được phục vụ Tổ quốc – phục vụ Nhân dân.

Việt nam, hút được dầu mỏ. Nhưng, dân chúng, chẳng hề biết, bán được bao nhiêu tiền và tiền ấy, được dùng vào việc gì. Chỉ biết, họ vẫn phải mua xăng, với giá thành, mà thuế và phí, đã chiếm non nửa trong số đó.

Đâu dễ gì thuyết phục, để Nhân dân tin rằng, những người CS, họ có NHÂN.

仁之所在, 天下归  之.  Nhân chi sở tại, thiên hạ qui chi.

Ở đâu có NHÂN, Thiên hạ sẽ theo về đấy. Những kẻ bất Nhân, Thiên hạ sẽ quay lưng – ngoảnh mặt.

免 人之死, 解人之难, 救人之患, 济人之急者, 德也 . Miễn nhân chi tử, giải nhân chi nan, cứu nhân chi hoạn, tế nhân chi cấp giả , ĐỨC dã.

Phải khoan dung – độ lượng. Tháo gỡ, những khó khăn cho người dân. Cứu họ, trong cơn hoạn nạn. Tiếp tế, khi họ gặp cảnh thiên tai. Làm được tất cả những cái đó, Đại vương đã để ĐỨC cho Thiên hạ.

Công an CS, bắt dân lành vì những tội tào lao. Vào nha môn, khỏe mạnh. Lúc ra, chỉ là cái xác, không hồn. Không phải 1, mà là nhiều. Nhiều như thế, nhưng chẳng thấy kẻ nào, bị đền tội. Ngược lại, người Dân có lỗi tí ti, họ bị hành hạ lên bờ – xuống ruộng. Chế độ như thế, đâu gọi là có đức.

Không những, không tìm cách tháo gỡ khó khăn cho người dân. Chế độ CS, luôn tìm mọi cách, để hành Dân. Cán bộ của họ, thản nhiên dạy nhau: “Việc dễ, không làm cho khó, lấy đâu thịt chó mà ăn”. Chế độ như thế, đâu gọi là có đức.

Khi người ta đau yếu, không có tiền, đừng mong được bệnh viện CS cứu chữa. Không có phong bì, đừng mong có thái độ ân cần. 3 đến 4 thằng dân đen, nằm chung 1 giường bệnh, là chuyện bình thường. Tính mạng của chúng, đáng kể gì. Bao nhiêu kinh phí, còn phải dồn cho cán bộ CS. Để, họ được đi chữa bệnh, ở những bệnh viện tốt nhất thế giới. Chế độ như thế, đâu gọi là có đức.

Khi người ta, gặp thiên tai – địch họa. Lâm vào cảnh, màn trời – chiếu đất. Cán bộ CS, cũng chẳng bỏ lỡ dịp, để xà xẻo cả vào tiền cứu trợ của cộng đồng. Họ “Ăn của dân, không chừa 1 thứ gì”(Lời bà Nguyễn Thị Doan). Chỉ có chế độ thất đức, mới sinh ra những loại cán bộ như vậy.

德之所在, 天下归之 . Đức chi sở tại, thiên hạ qui chi.

Phải có Đức, Thiên hạ mới theo. Nếu Đại vương thất Đức. Dẫu có bị kề gươm vào cổ, Thiên hạ, người ta cũng không đi theo Đại vương.

与人同忧同乐, 同好同恶者, 义也 .  Dữ nhân đồng ưu đồng lạc, đồng hiếu đồng ố giả , NGHĨA  dã

Biết cảm thông, mà không hả hê với nỗi đau của người khác. Biết hân hoan, mà không ganh ghét với thành công của họ. Cùng sở thích với Thiên hạ. Cùng ghét cay ghét đắng, những gì Thiên hạ không ưa. Làm được như thế, gọi là có NGHĨA.

Trên đời, ai cũng muốn, làm những việc mình say mê. Làm rồi, phải được hưởng thành quả. Không ai muốn, bị kẻ khác cướp công.

Câu chuyện anh em Đoàn Văn Vươn, ở Tiên lãng – Hải phòng, là 1 ví dụ nổi bật, để thấy cái NGHĨA của những người CS.

义之所在, 天下赴之.  Nghĩa chi sở tại, thiên hạ phó chi.

Đại vương có nghĩa, bá tính trong Thiên hạ, họ sẽ giao phó tính mạng – của cải – tài sản cho Đại vương.

Bạn cho chính quyền CS vay tiền của – cho họ mượn tài sản ư? Hãy tin tưởng 1 điều: Họ, sẽ không bao giờ, hoàn trả lại bạn. Đi đòi ư? Nhà tù của chế độ, còn rộng chỗ lắm. Họ sẽ vu oan – giáng họa, để tống bạn vào. Bạn mong chờ điều chi, khi lũ “Đầu trộm – đuôi cướp”, chúng lại ngồi, ở ghế quan tòa?

凡人恶死而乐生, 好德而归利, 能生利者, 道也 . Phàm nhân ố tử nhi lạc sinh, hiếu đức nhi qui lợi. Năng sinh lợi giả, ĐẠO dã.

Con người ta, không ai thích chết chóc, bệnh tật, nghèo hèn, thiên tai, mất mùa, thi trượt, lỗ vốn, khổ nhục, tù tội…Ai cũng thích được sống lâu, khỏe mạnh, phú quí, được tôn vinh, hiển danh. đắc ý, làm ăn phát tài, học hành tấn tới…Ai, cũng quí trọng, người nhân đức – việc nhân nghĩa. Nhưng trên hết, người đời hành động, theo cái lợi của riêng mình. Giúp dân, sinh lợi và trừ hại cho họ, đại vương, đã thực sự : “thế Thiên hành Đạo rồi”.

Khi dân bị hại, chính quyền không trừ được hại cho họ. Người xưa, đã xếp chính quyền ấy, vào loại vô Đạo. Trên cả mức ấy, có chính quyền chuyên làm hại dân – hại nước. Nhưng, chưa thấy người xưa, đặt ra cái thứ hạng gì, để có thể, xếp nó vào?

道之所在, 天下归之.  Đạo chi sở tại, thiên hạ qui chi.

Ở đâu có đạo, Thiên hạ sẽ theo về.

文王再拜曰: “允哉, 敢不受天之诏命乎!” 乃载与俱归. 立为师 . Văn vương tái bái viết: “ Doãn tai, cảm bất thụ thiên chi chiếu mệnh hồ !” Nãi tải dữ câu qui. Lập vi sư.

Văn vương, bái tạ 2 lần, rồi nói: “Nghe tiên sinh giảng giải, khác nào, như quét được đám mây mù, mà trông thấy trời xanh. Ta đâu dám, không tiếp thụ, chiếu mệnh của Ngọc Hoàng thượng đế”. Nói đoạn, mời Khương Thái công, ngồi cùng xe, hồi triều. Lập làm quân sư.

Lời bàn:

-Quản Trọng, là Tể tướng của nước Tề, thời Xuân Thu. Ông đã từng tổng kết: 争天下者, 必先争人 – tranh Thiên hạ giả, tất tiên tranh nhân. Nghĩa là, muốn thu phục được Thiên hạ, đầu tiên, phải nghĩ đến chuyện giành dân.

Nhà buôn, muốn bán được hàng, bao giờ, họ cũng tìm mọi cách, để chiếm được tình cảm của khách hàng. Họ cải tiến mẫu mã – tăng chất lượng hàng hóa – giảm giá thành và tăng chất lượng dịch vụ. Họ biết, không làm tốt việc đó, chỉ có mỗi con đường: Phá sản và đi ăn mày. Đối với nhà buôn, không vui sướng gì hơn, khi chứng kiến cảnh khách hàng, ùn ùn đổ về mua và dùng sản phẩm của mình.

Trong bầu cử, ở các thể chế Dân chủ. Ứng cử viên nào, cũng phải vận động cử tri. Thuyết phục họ. Để họ tin mình, để họ theo mình và để họ dồn phiếu cho mình. Thắng cử rồi, họ tận tâm – tận lực, phục vụ Nhân dân. Những ông Chủ – bà Chủ của họ.

Những người CS, thì khác. Họ luôn tâm niệm 1 điều: “súng đã đẻ ra được chính quyền”, thì “súng cũng sẽ giữ được chính quyền”. Bởi thế, họ chỉ cần, tìm mọi cách để nắm lực lượng vũ trang và hết lòng chăm lo cho chúng. Đối với họ, quần chúng, chỉ là một con số 0 tròn chĩnh. Giỏi lắm, quần chúng là nơi để họ bóc lột – là nơi để họ sai khiến và là nơi, để họ bố thí của ôi thiu – dư thừa. Họ thản nhiên ăn trên – ngồi trốc trên đầu Nhân dân. Đó là, sai lầm chết người của CS. Không có ai dạy, để cho họ biết rằng: Không có Dân, chính quyền, chỉ như một con thuyền nằm trên bờ.

Nga xô và các nước CS Đông Âu sụp đổ. Những người CS, họ đổ riệt cho: “Âm mưu diễn biến Hòa bình” và “Các thế lực thù địch và phản động”. Xem ra, họ chẳng khác gì, những con đà điểu. Thích rúc đầu vào cát, để không muốn nhận ra, 1 sự thực rằng: Chính những ung nhọt, trong lòng chế độ CS và chỉ nó, mới có thể phá nát những chế độ CS. Ung nhọt đó, bắt nguồn từ chỗ: “bất Nhân – phi Nghĩa – thất Đức – vô Đạo”. Họ, không có, những phẩm chất của 1 bậc Đế vương. Nên dân chúng không theo. Mất dân, cho nên họ mất tất.

Ở Việt nam cũng vậy. Mấy triệu con người, đã phải gạt nước mắt, bỏ lại nhà cửa, bỏ lại người thân, bỏ lại Đất nước, mà ra đi. Họ, thà làm mồi cho cá mập, thà bị cướp biển giết chóc – cưỡng đoạt, chứ nhất định, không chịu sống dưới chế độ CS. “Chế độ CS, phải như thế nào, người ta mới bỏ đi ồ ạt như thế chứ”.

Khi bỏ nước, để đi tìm “mảnh đất hứa”: Người ta, chọn đến xứ, có “cờ 50 sao”. Chẳng ai chọn đến xứ có “cờ 5 sao” cả. Chẳng cứ cá nhân, các Nhà nước cũng vậy. Khi cần chọn đồng minh, ai cũng chọn Hoa kì. Không ai chọn Trung quốc. Tất nhiên, trừ nhà nước CHXHCN Việt nam. Bởi, người thông minh, họ phải biết, đi tới chỗ sáng. Nơi có NHÂN – NGHĨA – ĐỨC – ĐẠO. Chỉ có ngu dốt, mới chịu sa chân, để bước vào nơi tối tăm mù mịt.

Nguyễn Tiến Dân

Địa chỉ: 208 phố Định Công Thượng – quận Hoàng mai – Hà nội

Điện thoại: 0168-50-56-430.

Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 2: Doanh hư

Posted by adminbasam on 10/11/2014

Nguyễn Tiến Dân

04-11-2014

DOANH HƯ

Thiên này, thảo luận việc hưng – suy – trị – loạn của 1 quốc gia.

Việc đó, không phụ thuộc, vào mệnh Trời. Không phụ thuộc, vào vị trí địa lí của Quốc gia. Không phụ thuộc, vào tập quán sinh hoạt của người Dân. Việc đó, hoàn toàn phụ thuộc, vào người đứng đầu quốc gia. Người đứng đầu giỏi, Đất nước sẽ phồn vinh. Nhân dân, sẽ ấm no – hạnh phúc. Ngược lại, lũ hôn quân – vô đạo, chúng, sẽ đưa Đất nước, đến chỗ điêu tàn. Đẩy dân chúng tới chỗ lầm than.

盈虚

文王问太公曰: “天下熙熙, 一盈一虚, 一治一乱, 所以然者, 何也. Văn vương vấn Thái công viết: “Thiên hạ hi hi, nhất doanh nhất hư, nhất trị nhất loạn, sở dĩ nhiên giả hà dã?”

Văn vương hỏi Thái công: “Thiên hạ, vốn dĩ hỗn loạn và phức tạp. Quốc gia: Có lúc, hưng thịnh – Có lúc, suy vong. Đất nước: Có lúc, của cải dư thừa – Có lúc, chết đói đầy đường. Dân chúng: Có lúc, an cư – lạc nghiệp. Có lúc, loạn lạc – bất yên. Cơ sự ấy tại đâu?”

其君贤不肖不等乎, 其天时变化自然乎? Kì quân hiền bất tiếu bất đẳng hồ, kì thiên thời biến hóa tự nhiên hồ?

Vua hiền, hay Chúa u mê không giống nhau, mà sinh ra chăng? Hay tại thiên thời – tự nhiên biến hóa, mà thành ra như vậy?

太公曰: 君不肖, 则国危而民乱. 君贤圣, 则国安而民冶. 祸福在君不在天时. Thái công viết: “Quân bất tiếu, tắc quốc nguy nhi dân loạn. Quân hiền Thánh, tắc quốc an nhi dân trị. Họa phúc tại Quân, bất tại thiên thời”        

Thái công đáp: “Người đứng đầu Đất nước, có Tài hèn – Chí cùn. Tầm nhìn thiển cận. Tư duy nhiệm kì. Đã thế, lại còn ích kỉ. Chắc chắn, Quốc nguy, mà Dân loạn. Người đứng đầu Đất nước, Tài giỏi – Thông minh, có tầm nhìn xa – trông rộng. Hết lòng vì Dân – vì Nước. Chắc chắn, Quốc an, mà Dân trị. Họa – phúc của 1 Quốc gia, tại Vua – tại Chúa – tại người lãnh đạo.Thiên thời vô can”.

Cứ gì Quốc gia. Bill Gates, khởi đầu sự nghiêp, gần như, với 2 bàn tay trắng. Ông, chỉ có trong tay, niềm đam mê. Chỉ có trong tay, trí tuệ sắc bén. Cộng với, đầu óc tổ chức, cực tài. Bây giờ, nói đến ông và Microsoft, ai mà chẳng biết. Chương trình Bô xít của chúng ta, có dàn lãnh đạo, quá tồi. Chưa làm, đã thấy cửa bại. Nhưng, vẫn đâm đầu vào. Để đến giờ, càng làm – càng chết.

Cứ gì Doanh nghiệp. Gia đình nào, có ông bố tài năng – đức độ, có bà mẹ đảm đang – tháo vát. Gia đình ấy, ắt thuận hòa, ăn gia làm nên. Ngược lại, ông bố bất tài – nghiện ngập, bà mẹ vụng về – cờ bạc. Dẫu có hàng núi vàng, gia đình ấy, vẫn lục đục, chẳng bao giờ yên.

文王曰: 古之贤君可得闻乎?Văn vương viết: “Cổ chi hiền quân, khả đắc văn hồ?”

Văn vương hỏi: “Cổ đại, vị nào, có thể được coi là Vua hiền?”

太公曰: 昔者帝尧之王天下也, 上世所谓贤君也. Thái công viết: “Tích giả, Đế Nghiêu chi vương thiên hạ dã, thượng thế sở vị hiền quân dã”

Thái công trả lời: “Cổ – kim, đều ca tụng Đế Nghiêu. Ngài xứng đáng, được coi là, vị Vua hiền”.

文王曰:其治如何? Văn vương viết:“Kì trị như hà” .

Văn vương hỏi: “Đế Nghiêu, trị lí thiên hạ ra sao?”

太公曰: 帝尧王天下之时. 金银珠玉不饰, 锦绣文绮不衣. Thái công viết: “Đế Nghiêu vương thiên hạ chi thời, kim ngân, châu ngọc bất sức; cẩm tú, văn ỷ bất y”.

Thái công trả lời: “Đế Nghiêu khi làm Vua: Ngài, không dùng vàng bạc – châu báu, làm đồ trang sức. Không dùng lụa là – gấm vóc, để may y phục. Quần áo mặc, không may vá – thêu thùa cầu kì”.

奇怪珍异不视. 玩好之器不宝. Kì quái trân dị bất thị, ngoạn hảo chi khí bất bảo.

Việc li kì, không nghe. Vật quí hiếm, không xem. Trong nhà, không tàng trữ bảo vật, như ngà voi – sừng tê. Cũng không chứa đồ đẹp đẽ – chế tác cầu kì, như trống đồng, bình vàng, chén ngọc. Việc đó, Ngài dặn lại con cháu, xui lãnh đạo CS, loại như ông Lê Khả Phiêu. Để, ông ấy làm.

淫佚之乐不听, 宫垣屋室不垩.  Dâm dật chi nhạc bất thính, cung viên ốc thất bất ác.

Nhạc dâm dật, không nghe. Thi Hoa hậu, không xem. Giữa thanh thiên – bạch nhật, trai gái, ôm riết lấy nhau, mà đú đởn trước liệt tổ – liệt tông, Ngài cấm chỉ. Hành vi đó, Ngài đóng hòm, cho xuất khẩu, sang Bộ Văn hóa của nước Nam.

Phòng Ngài ở: Tường, không cho bả – Vách, chẳng cho sơn. Xem ra, tư dinh của Ngài, chẳng bằng cái bếp, trong biệt thự của ông Bùi Thanh Quyến. Bí thư của 1 tỉnh, nhỏ xíu ở Việt nam.

甍、桷、椽、楹、不斫,茅茨偏庭不剪. Manh, giác, chuyên, doanh bất chước; Mao tỳ biên đình bất tiễn.

Cột, kèo, rui, mè để dựng nhà, Ngài không cho đẽo gọt – chạm trổ cầu kì. Mái điện, lợp bằng cỏ gianh. Nếu có lòa xòa, cũng chẳng cần cho cắt tỉa.

Thế mới hay, người xưa, chẳng biết thưởng ngoạn. Cung điện của Ngài, sánh sao cho được, với Hội trường Ba đình của Việt nam. Vậy mà, những người CS, họ vẫn cho đập đi. Để, xây Trụ sở Quốc hội mới. Tỷ lần, hoành tráng và đẹp đẽ hơn. Để, các ông nghị – bà nghị, có chỗ, vào đó mà ngủ gật.

鹿裘御寒, 布衣掩形. Lộc cừu ngự hàn; bố y yểm hình

Mùa đông, dùng da hươu, may áo. Khoác lên người, chỉ cốt chống rét. Mùa hạ, dùng vải thô, may y phục. Mặc vào người, chỉ cốt kín thân.

粝粱之饭, 藜藿之羹. Lệ lương chi phạn, lê hoắc chi canh

Cơm ăn, dùng gạo giã dối, để thổi. Canh chan, dùng rau hoang dã, để nấu. Không bao giờ, uống những chai rượu, giá bằng mấy con trâu. Chẳng cho phép, bán đi hàng chục tấn thóc. Để lập vườn, trồng sau sạch, chỉ dành riêng cho mình.

不以役作之故, 害民耕绩之时. Bất dĩ dịch tác chi cố, hại dân canh tích chi thời

Không cố, cưỡng ép dân, đi phu – đi lính. Nay hội, mai hè triền miên. Để làm hại tới ngân quỹ của Quốc gia và nông vụ của người Dân.

Thời Đế Nghiêu, “Vua – tôi đồng lòng. Anh – em hòa thuân. Cả nước gắng sức”. Bởi thế, Xã hội thanh bình. Toàn dân, liên kết, thành 1 khối thống nhất. Những nước láng giềng, dẫu có dã tâm, cũng không dám đến, để nhòm ngó. Nuôi làm gì lắm lính, để tổn hại, đến Ngân quỹ Quốc gia.

Những người CS, họ không có khả năng, đoàn kết được toàn dân. Họ, chẳng sợ Trung quốc. Vì, đấy là “bạn tốt” của họ. “Bạn ấy”, chỉ nhòm ngó thứ khác. “Bạn ấy”, đâu có nhòm ngó, ngai vàng của họ. Họ chỉ sợ, Nhân dân, sẽ lật đổ họ. Như Nhân dân, đã lật đổ các chế độ CS ở Nga xô và các nước CS Đông Âu. Vì thế, Công an “nhiều như quân Nguyên”. Nhưng, được giành phần lớn, để đi theo dõi và trấn áp người dân. Cướp – giết – hiếp – nghiện ngập đầy đường, đâu có thấy, bóng dáng các anh. Bộ đội, đông vô kể. Nhưng, thỉnh thoảng mới thấy họ. Khi, họ đi duyệt binh và khi, họ bám càng công an, để đi cưỡng chế Dân oan. Lãnh thổ, bị xâm phạm, chẳng thấy, ông lính nào, đến nhòm ngó.

削心约志, 从事乎无为. Tước tâm, ước chí. Tòng sự hồ vô vi.

Không muốn cao sang. Chẳng hề mơ mộng. Dân trí còn thấp, không siết ngân sách giáo dục, dành tiền nuôi gà nòi. Để mong, được giải Nô bel hão huyền. Kinh tế còn nghèo, không màng, xây những công trình “Xứng tầm khu vực và thế giới”. Chỉ cốt, khoe sự tham ăn và ngu dốt của mình.

Thuận theo tự nhiên, thuận theo dân ý mà trị nước, chăn dân. Ngài, không quy hoạch khu dân cư, ở vùng trũng. Bởi thế, triều cường, dẫu có lên đến đỉnh, cũng chẳng hề ảnh hưởng, đến việc đi lại và sinh hoạt của Nhân dân. Thuận theo nguyện vọng của Nhân dân, Ngài, tuyển chọn quan lại, thật kĩ càng.

吏忠正奉法者尊其位. Lại trung chính, phụng pháp giả, tôn kì vị.

Tiêu chuẩn, để tuyển chọn quan lại, bao gồm: Trung thành – Chính trực – Thượng tôn pháp luật. Và, chỉ những người, làm tốt các tiêu chí đó, mới được thăng chức.

Tục ngữ Việt nam, có câu: “Ăn cây nào – Rào cây ấy”. Quan lại, lĩnh lương của Nhà nước. Họ, phải có nghĩa vụ, trung thành với Tổ quốc và hết lòng, phục vụ Nhân dân. Họ không thể nhập nhèm: Lĩnh lương của Nhà nước, nhưng lại tuyên thệ trung thành và làm việc, cho 1 cái đảng nào đấy. Giống như sư sãi: Khi đã qui y, họ được ăn oản. Bắt buộc, họ phải ở lại chùa, mà quét lá đa. Họ, không được phép, mang lộc Chùa, để về, xây nhà thờ Tổ của mình.

Quan lại thời nay, đầy kẻ gian dối. Bằng cấp, chúng đi mua. Tuổi tác, chúng khai man. Quả trứng, có thể ăn cắp được. Xá gì, mà chúng, chẳng dám trộm bò. Đưa những kẻ lươn lẹo, vào hệ thống chính quyền. Chúng, sẽ phá nát chính quyền và chia nhau, ăn hết sạch của cải của Nhân dân.

Khi làm viêc, quan lại: “Lục thân đến, không được nhận – Đầu đảng nói, không được nghe”. Chỉ biết, “Thượng tôn pháp luật”. Pháp luật, cho người dân, được “Tự do ngôn luận”. Đừng bịt mồm – bịt miệng người ta. Pháp luật, cho người dân, được “Tự do đi lại”. Chớ xích chân – trói cẳng người ta. Pháp luật, cho người dân, được “Ứng cử tự do”. Đừng đem, “Mặt trận Tổ quốc” ra, làm trò mèo, để loại bỏ người ta.

廉洁爱人者厚其禄. Liêm khiết, ái nhân giả, hậu kì lộc.

Muốn Quan lại liêm khiết – thương dân, ít nhất, cũng phải trả cho người ta, đồng lương đủ để sống. Các thể chế Dân chủ, họ đều thực hiện cách này. Nhưng, thể chế CS, thì không. Cán bộ của họ, có đồng lương chết đói. Muốn sống sung túc, họ không từ 1 thủ đoạn nào, để vơ vét của Nhân dân.

民有孝慈者爱敬 之. Dân hữu hiếu từ giả, ái kính chi.

Xã hội, thời Đế Nghiêu. Những người, được kính trọng nhất: Không phải, là bọn trọc phú, lắm tiền. Không phải, là kẻ dốt nát, có quyền cao – chức trọng. Những người: Ở nhà mình, họ Hiếu thảo – Ra ngoài đường, họ Từ tâm. Họ, là người tốt, từ trong – ra ngoài. Họ, được cả xã hội, kính trọng.

Thời CS, cả xã hội, xun xoe trước những kẻ giàu và quị lụy, đến mức hèn hạ, trước những kẻ cầm quyền. Từ tâm và Hiếu thảo, là những thứ xa xỉ, hiếm gặp vô cùng. Mấy ai, biết rằng: Có bác sĩ, đã cấy vi trùng phong, vào dái tai của mình. Để chứng minh, bệnh phong không dễ lây. Để kêu gọi, cả xã hội, đừng kì thị những bệnh nhân, mắc chứng bệnh phong. Bao nhiêu người, biết rằng: Có cô nuôi dạy trẻ, lăn xả vào miệng rắn độc, để cứu cháu bé. Cô, bị rắn cắn. Nhưng, cháu được bình yên. Xã hội, thời CS, vinh danh họ, hay nghĩ rằng, họ là những người điên?

尽力农桑者慰勉之. Tận lực nông tang giả, ủy khuyến chi.

Tận lực, tăng gia sản xuất – khai hoang phục hóa, như Đoàn Văn Vươn. Ngài về tận nơi: Cầm tay, mà biểu dương – Cho vay thêm tiền, mà làm vốn – Cấp thêm ruộng đất, cho mà làm ăn. Bởi Ngài biết, Vươn mà ăn to – làm lớn, bao nhiêu người chậm chạp, họ sẽ có phận nhờ.

Trong hoàn cảnh, nhà nghèo – vốn ít – con đông. Những gia đình căn cơ, họ không bao giờ chia đều – cào bằng. Họ dồn tiền vốn – đất đai, cho đứa nào có khả năng, để nó sản xuất. Họ dồn tiền của – thời gian, cho đứa nào thông minh, để nó đi học. Họ gom vàng – bạc, cho đứa nào tháo vát, để nó vượt biên. Những người con đó, sau này, sẽ dìu dắt, tất cả những người còn lại của gia đình.

Những người CS, họ làm ngược lại. Đất đai – vốn liếng, họ không giao cho những người tài giỏi. Họ, giao hết vào tay, lũ đầu đất. Đầu tư vào chúng, khác nào, đổ tiền vào 1 cái thùng, không đáy. Không sạt nghiệp, sao được.

旌别淑德, 表其门闾. Tinh biệt thục đức, biểu kì môn lư.

Phụ nữ, có “Tiết hạnh khả phong”, được mọi người biết, ngay từ khi, đặt chân đến cổng làng.

Chư hầu, có quý bà, trải qua ba – bốn đời chồng, cuối cùng vẫn lấy được Vua. Vẫn được Vua, lập làm Hoàng hậu. Sự ô nhục ấy của Vua chư hầu và sự “tài giỏi” của Hậu, sẽ được vinh danh, nơi cửa chuồng trâu.

平心正节, 以法度禁邪伪. Bình tâm chính tiết, dĩ pháp độ cấm tà ngụy

Khí tiết thanh cao – Tấm lòng ngay thẳng. Lấy pháp luật, mà cấm chỉ tà ngụy – đồng cốt – bói toán quàng xiên. Không bao giờ, nghe lời xui dại của lũ Hòa thượng Quốc doanh, để làm những chuyện nhảm nhí. Tỉ như đúc 2 quả tim, rồi yểm cho tượng Thánh Gióng, lẫn con ngựa đồng. Nếu, những người CS, tin rằng, phải có sự ấy, thì tượng mới Linh thiêng. Bắt buộc, ta phải nghĩ rằng: Họ, đang hạ bệ, Thần tượng Hồ Chí Minh. Bởi, chắc chắn 1 điều: Trong lồng ngực của Chủ tịch, bây giờ, không có quả tim của Người.

所憎者, 有功必赏. Sở tăng giả, hữu công tất thưởng.

Người mà mình không ưa, có công, vẫn được trọng thưởng.

Trung tá Ngụy Văn Thà, cùng các chiến sĩ Hải quân Việt nam Cộng hòa, đã anh dũng hy sinh, để bảo vệ, sự toàn vẹn lãnh thổ của Đất nước. Dẫu, không ưa chế độ Việt nam Cộng hòa. Nhưng, những người CS, vẫn phải có nghĩa vụ, vinh danh họ. Thế, mới phải Đạo.

所爱者, 有罪必罚. Sở ái giả, hữu tội tất phạt.

Người mà mình yêu quí, có tội, vẫn phải lôi ra chém đầu.

Xưa, Khổng Minh, phải gạt nước mắt, để chém Mã Tốc – một đệ tử yêu của mình. Do can tội, để mất Nhai đình. Nay, Vinashin, làm thất thoát của Đất nước, có nhõn 4 tỉ USD. Nhà nước CS, cho toàn dân biết “Bộ Chính trị quyết định, không xử phạt 1 ai”. Phép nước, “nghiêm” đến thế là cùng.

存养天下鳏, 寡, 孤, 独.  赈赡祸亡之家. Tồn dưỡng thiên hạ quan, quả , cô , độc ; Chẩn thiệm họa vong chi gia .

Lập trại dưỡng lão, để nuôi dưỡng người già yếu – cô đơn – cô nhi – quả phụ. Tổ chức cứu tế, cho những gia đình, gặp địch họa – thiên tai.

其自 奉也甚薄, 其赋役也甚寡. Kì tự phụng dã thậm bạc, kì phú dịch dã thậm quả

Bản thân sống cần kiệm – sinh hoạt đạm bạc. Thu của dân thì nhẹ thuế – ít phí. Không tùy tiện, bắt dân phu phen – tạp dịch.

Thông qua, 1 ví dụ cụ thể, là chiếc ô tô. Chúng ta hãy xem, những người CS, họ đã học được những gì, ở Đế Nghiêu. Chiếc ô tô, phải cõng trên mình nó, ít nhất, 3 loại thuế và 7 loại phí. Loại nào, cũng rất “nhẹ”. Cho nên, để sở hữu, một chiếc Hyundai SantaFe nhập khẩu, người tiêu dùng, phải bỏ ra, khoảng 83.000 USD. Trong khi, chiếc xe này, có giá tại Mỹ, chỉ là 23.000 USD.

CS, không chịu làm. Nhưng, họ ăn quá dầy.

故万民富乐而无饥寒之色. Cố vạn dân phú lạc nhi vô cơ hàn chi sắc.

Cho nên, vạn dân giàu có – yên vui. Muôn nơi, rộn tiếng cười. Không đâu, ngộ cảnh đói – rét.

百姓戴其君如日月, 亲其君如父母.  Bách tính đái kì Quân như nhật nguyệt, thân kì Quân như phụ mẫu.

Trăm họ, mang ơn Vua, như đội ơn, hai vầng Nhât – Nguyệt. Thân thiết, kính trọng Vua, như cha mẹ của mình.

Đó, cũng chính là lý do, giải thích tại sao: “Các thế lực thù địch và phản động”, lẫn “Âm mưu diễn biến Hòa bình”, không dám và không thể, lật đổ được, vị Vua thân yêu của họ.

文王曰:大哉!贤君之德也! Văn vương viết: “Đại tai! Hiền Quân chi Đức dã”.

Đức hạnh của bậc Thánh nhân, cao siêu vời vợi. Rút gọn lại, chỉ gồm: Cần – Kiệm – Liêm – Chính. Chí công – Vô tư. Ai, mà chẳng nói được. Nhưng, có phải, ai cũng làm được như Đế Nghiêu đâu.

Vì thế, Văn vương phải thốt lên : “Ôi! Vĩ đại thay, cái Đức của bậc Thánh nhân”.

Lời bàn:

Ở Việt nam, có 1 ông, Trung ương ủy viên – phó trưởng Ban Tuyên huấn. Ông ta, làm như thể, mình là người đầu tiên, phát hiện ra 1 sự thật: “Nước ta, cùng Hàn Quốc, cách đây 50 năm, đều trong một hoàn cảnh giống nhau. Vậy mà hôm nay, ở Việt Nam, có khoảng 90.000 người Hàn Quốc. Họ, đều là những ông chủ – bà chủ. Còn, 90.000 người Việt ở Hàn Quốc. Tất thảy, đều đi đến đó, để làm tôi tớ”. Nếu biết điều, xin ông, hãy nói tiếp: “Nhật bản và Hàn quốc, giàu có và Văn minh. Bởi, họ có ban lãnh đạo tài giỏi, hết lòng vì Dân – vì Nước. Lãnh đạo Việt nam, có những phẩm chất ngược lại. Bởi thế, chúng ta đã – đang và sẽ mãi mãi, vẫn nghèo hèn và lạc hậu. Không thể khác được”.

Ông Tố Hữu, có 1 câu thơ: “Ta tự hào đi lên. Ôi Việt nam”. Không tự hào, sao được. Bởi, đường tới Thiên đàng của chúng ta, Thiên hạ, chẳng ai dám đi. Vì, họ biết, đích đến của nó, là vực thẳm. Chỉ có ta, nhắm mắt và hiên ngang bước tới. Đường chúng ta đi, lồi lõm, giống như mặt ruộng, lúc mới cày. Phố xá chúng ta ở, mưa xuống là thành sông. Sông ngòi của chúng ta, đen ngòm và đặc quánh. Đầy túi nilon và dư thừa xác xúc vật. Thủ đô “nghìn năm văn hiến”của chúng ta, bẩn thỉu –  hôi thối – nhếch nhác – lộn xộn và kệch cỡm. Con người của chúng ta, được đảng giáo dục. Cho nên, Văn – Võ toàn tài. Văn: Bằng cấp của chúng ta, chẳng được ai tôn trọng và công nhận. Đi ra nước ngoài, họ cảnh báo chúng ta, bằng tiếng Việt: Xin đừng ăn cắp của họ. : Động tí, là đánh – chửi nhau. Đi ăn cắp chó, cũng có thể, bị đập chết, như 1 con chó. Những người cai trị chúng ta, họ thật là nhân từ. Họ, cư ngụ, trong những căn biệt thự xinh đẹp. Mặc kệ người Dân, sống vất vưởng. Họ, coi người dân, chỉ bằng nửa con mắt. Công an của chúng ta, “giỏi nhất Thế giới”. Bằng chứng, chính họ, phát truyền đơn, cảnh báo cho du khách, trộm cắp ở Việt nam, nhiều hơn rươi.

… và …

Xem bức tranh, phác họa 1 cách vội vàng đó. Bạn, thấy tự hào hay nhục nhã, khi cầm trên tay, cuốn Hộ chiếu của nước CHXHCN Việt nam? Quan trọng hơn, bạn nghĩ, đấng Quân vương của chúng ta: Hiền minh, hay là lũ đầu đất?

Những người CS, họ lập ra, cái gọi là, Ban Tuyên giáo Trung ương. Giao cho, 1 ông vua của đảng CS, cầm đầu. Tập hợp trong đấy, tinh những Giáo sư – Tiến sĩ. Họ được đào tạo, 1 cách, hết sức bài bản. Chuyên “định hướng dư luận” và “đấu tranh, với các luồng tư tưởng, đối nghịch với đảng CS”. Hướng ra nước ngoài, tất nhiên, họ không dám rồi. Bởi, ra ngoài đó: Ăn nói mà u mê – Diễn thuyết mà lẩm cẩm. Thiên hạ, người ta lập tức cấm cửa. Họ không dỗi hơi, nói chuyện với thằng khùng. Trong nước, một mình – một chợ. Sao chẳng dám, lập 1 diễn đàn công khai. Để, những tinh hoa của đảng CS, đối thoại trực tiếp với Nhân dân và vạch rõ, những luận điệu sai trái của “Các thế lực thù địch và phản động” ?

Chiến thắng “đối lập”, bằng lý luận và thực tiễn. Bao giờ, cũng vẻ vang hơn, chiến thẳng họ, bằng nắm đấm. Ban Tuyên giáo Trung ương, hãy chứng tỏ: các Anh – các Chị, có bản lĩnh; các Anh – các Chị, không phải là 1 thực thể thừa và các Anh – các Chị, không bao giờ, chịu núp sau đũng quần của ngành Công an. Xin, các Anh – các Chị, hãy dũng cảm lên.

Mang chiêng, đi đấm ở xứ mình.

Không kêu, cũng phải đánh 1 hồi, cho Thiên hạ biết danh

Nguyễn Tiến Dân

Địa chỉ : 208 phố Định Công Thượng – quận Hoàng mai – Hà nội

Điện thoại : 0168-50-56-430

 Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 3: Quốc vụ

Posted by adminbasam on 18/11/2014

Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó  –  Bài 3: Quốc vụ.

Nguyễn Tiến Dân

18-11-2014

QUỐC  VỤ

Thiên này, đi sâu vào giảng giải: Cốt lõi của phép trị nước – Đó là, phải thương dân.

Người đứng đầu Đất Nước, phải lo toan cho Dân: Phải bảo vệ, quyền lợi hợp pháp của họ – Phải giúp họ, biến ước mơ, thành hiện thực – Không bao giờ, dồn họ, vào bước đường cùng – Không được bóc lột họ, 1 cách nặng nề – Làm cho Dân, có cuộc sống hạnh phúc – Không được chọc giận, để họ, nổi khùng lên.

Ở Việt nam, người thấu hiểu đạo lý này nhất, có lẽ, là Đức Thánh Trần. Trước lúc lâm chung, Cụ còn thiết tha, dặn lại vua Trần: “Khoan thư sức dân. Đó là kế, sâu rễ – bền gốc. Là thượng sách, để giữ nước”.
国务

文王问太公曰:愿闻为国之大务,欲使主尊民安,为之奈何? Văn vương vấn Thái công viết: “Nguyện văn vi quốc chi đại vụ. Dục sử chúa tôn, dân an, vi chi nại hà?”

Văn vương hỏi Thái công: “Xin Tiên sinh, giảng giải, những nét đại cương, về phép trị nước. Muốn Vua – Chúa, được dân chúng tôn trọng. Còn dân chúng, được an cư – lạc nghiệp. Ta phải làm thế nào?”

太公曰:爱民而已! Thái công viết: “Ái dân nhi dĩ”.

Thái công trả lời : “Đại vương, hãy yêu thương dân chúng của mình. Thế là đủ”.

Sông, có nguồn – Cây, có cội. Rừng, bị tàn phá. Sông, thiếu đi nguồn cung – tất kiệt. Đất, bị khô hạn và không được bón phân. Cây, không hút được dinh dưỡng – tất khô. Để có được, dòng sông nước đầy ăm ắp – Người ta, phải chăm sóc rừng đầu nguồn. Để có được, thân cây cường tráng – Người ta, phải chăm tưới nước và bón phân cho nó.

Tự cổ – chí kim, thể chế nào cũng phải, “Lấy Dân làm gốc”. Nhà nước nào sống được, cũng phải dựa vào Dân. Dân cung cấp sức người – sức của cho Nhà nước. Dân cung cấp nhiều, Nhà nước tất mạnh. Sức Dân kiệt, Nhà nước tất nguy. Thương yêu và chăm sóc dân chúng, đó là cách, để bậc Đế vương, thể hiện Đức – Hạnh của mình. Thương yêu và chăm sóc dân chúng, cũng là cách, để nuôi dưỡng nguồn thu. Nó giống như, chăm sóc rừng đầu nguồn – giống như, tưới nước và bón phân cho cây vậy.

Trong đám dân chúng: Người giàu, ví như, con suối lớn. Người tài, khác gì, thứ dinh dưỡng thượng hạng. Khơi được 2 nguồn này, Đất nước tất mạnh. Không khơi được 2 nguồn này, Đất nước tất suy.

Tưởng Giới Thạch, sau khi thăm Liên xô, ông nhận thấy: Những người CS, họ rất ghét người giàu và đố kị với người tài (2 động lực chủ yếu, để thúc đẩy sự phát triển của xã hội). Do đó, ông kiên quyết chống lại chủ trương: “liên Nga – liên cộng – phù trợ công nông” của Tôn Trung Sơn. Ông, lãnh đạo Trung hoa Dân quốc, theo cách riêng của mình. Sự phát triển vượt bậc của Đài loan và sự ì ạch của Trung hoa đại lục ngày nay, minh chứng, cho viễn kiến của ông.

Những người CS Việt nam, họ chủ trương: “Trí – Phú – Địa – Hào, đào tận gốc – trốc tận rễ”. Chẳng cần nói, ta cũng biết, tương lai “tươi sáng” của một chủ trương sai lầm.

文王曰:爱民奈何?Văn vương viết : “Ái dân nại hà?”

Văn vương hỏi: “Yêu dân, được đánh giá, theo những tiêu chí nào?”

太公曰:利而勿害, Thái công viết: “Lợi nhi vật hại”

Thái công trả lời: Hãy làm lợi cho dân và tiêu diệt sạch sẽ, những gì, có thể hại họ.

Vì quyền lợi của dân chúng, phải thanh lọc bộ máy lãnh đạo. Không để ở đó, những loại vô tài – thất đức. Chúng, chỉ giỏi hại Dân – hại Nước. Hãy chăm sóc môi trường, để người dân, không phải sống, trong cảnh ô nhiễm. Hãy kiểm soát gắt gao, để người dân, không phải dùng, thực phẩm độc hại. Hãy tạo ra quỹ nhà ở dồi dào, để ai cũng có thể, có nơi ăn – chốn ở tử tế. Hãy cải cách, để người dân, không bị, 1 rừng hủ tục hành chính hành hạ. Hãy thông thoáng luật – lệ, để người dân, có thể tự do làm ăn và thỏa sức sáng tạo. Hãy triệt bạo – ngược, để người dân, được sống, trong 1 xã hội thanh bình.

成而勿败. Thành nhi vật bại.

Tạo điều kiện, để người ta thành công. Đừng để người ta thất bại.

Giáo sư Ngô Bảo Châu, đã thành danh. Nhưng, đâu phải, trên quê hương của mình. Nếu, ở lại Việt nam: Ông, chắc gì, đã hơn Lê Bá Khánh Trình. Cũng lại, mòn đũng quần ở giảng đường. Tối – ngày, đi dạy thêm và tướt bơ, với ngày 2 bữa ăn. Sao, có thể, nên cơm – thành cháo được.

Trần Quốc Hải, đam mê, chế tạo trực thăng. Ông không được, nhà nước CS, động viên và khuyến khích. Họ ngăn cấm, thậm chí, giam cầm máy bay của ông. Thật chua xót, con dân Đất Việt, chỉ biết đến ông, nhờ người…Campuchia. “Nước bạn, kêu tôi sang làm khoa học. Họ cấp nhà đất, xe cộ, bảo đảm kinh tế. Mình, chỉ cần, chuyên tâm sáng tạo”. So sánh, 2 Nhà nước, 2 cách đãi ngộ, ta sẽ hiểu: Tại sao, Campuchia, từng bước đuổi kịp và sẽ vượt Việt nam , trong 1 tương lai không xa. Campuchia, còn chưa chắc, đã ăn đứt được họ. Mơ làm gì, đến những chuyện cao sang. Tỉ như: “Dân tộc Việt nam, sẽ bước tới đài vinh quang,để sánh vai với các cường quốc 5 châu”.

生而勿杀.  Sinh nhi vật sát.

Tạo điều kiện, cho người ta sinh tồn. Đừng triệt đường sống của họ.

Đừng cướp, ruộng đất của nông dân. Khiến họ, mất sạch tư liệu sản xuất. Mất tư liệu sản xuất, nông dân sẽ bị, dồn đến bước đường cùng. Bị, dồn đến bước đường cùng, dẫu chỉ có, cuốc – thuổng – gậy gộc – súng hoa cải, người ta, cũng không ngần ngại, mà nã thẳng vào đầu của nhà cầm quyền.

Thế gian, có 3 điều, không nên cưỡng ép:

Khẩu vị. Sư ông ăn chay. Nhưng, chẳng thấy sư nào, bắt đệ tử, không được ăn mặn.

Tình cảm. Con trẻ, nó thương yêu ai, hãy tôn trọng, sự lựa chọn của chúng. “Ép dầu – ép mỡ. Ai nỡ ép duyên”.

Đức tin. Thế gian, có nhiều Tôn giáo. Tôn giáo nào, cũng tốt. Bởi, nó dạy con người ta, sống thiện. Hãy để, các Tôn giáo, sống hài hòa với nhau. Mình không thể, vì thích Phật giáo, mà bắt, tất cả mọi người, ai cũng phải thờ Phật và triệt, tất cả các tôn giáo còn lại. Mình không thể, vì thích lí tưởng CS, mà cưỡng ép toàn dân. Bắt họ, phải đi theo, cái lí tưởng ấy. Ai không theo, vu cho là phản động và tìm mọi cách để tiêu diệt.

与而勿夺. Dữ nhi vật đoạt.

Trong điều kiện có thể, hãy phổ thi ân huệ. Đừng tùy tiện, cưỡng đoạt.

Trên đời, bọn lục lâm – thảo khấu, chúng thường trương biển: “Đi cướp của nhà giàu, để chia cho người nghèo”. Vì, chúng còn biết ngượng, để che bớt đi, bản chất “đầu trộm – đuôi cướp”. Dẫu, thật sự, có chia của ăn cướp, cho người nghèo. Chúng, cũng khó mà được, sự ủng hộ của quần chúng. Trên cả bọn lục lâm – thảo khấu, là những băng đảng Mafia. Cướp được ruộng đất của Địa chủ. Chúng, chẳng hề, đem chia cho những người, cùng đi ăn cướp với chúng. Đã thế, đất đai – ruộng vườn – nhà cửa của họ, chúng lại trấn lột tiếp, để vơ hết cả vào lòng. Như thế, là táng tận lương tâm – là tận cùng của sự khốn nạn.

乐而勿苦. Lạc nhi vật khổ.

Làm cho người ta, an cư – lạc nghiệp. Đừng làm họ khổ.

Hạnh phúc, chỉ có ở những người: “Sáng, họ khát khao tới nơi làm việc.Vì, họ say mê, công việc của mình – Tối, họ khát khao trở về nhà. Vì, họ yêu quý, gia đình của mình”. Hãy giúp Dân: Để họ, có được 1 tổ ấm, đầy ắp tình thương. Con trẻ, được đến trường. Người già, ốm đau, được bệnh viện chăm sóc. Xã hội, an ninh và trật tự. Mọi người, ai cũng có, 1 công việc yêu thích và hợp với khả năng của mình. Nhà nhà Hạnh phúc, Đất nước, tự khắc bình yên.

Ai, đem Hạnh phúc, đến cho mọi người. Quần chúng, sẽ tôn trọng, biết ơn và ủng hộ người đó.

喜而勿怒. Hỉ nhi vật nộ.

Làm cho người ta vui vẻ. Thay vì, khích nộ họ.

Tôn Tử, có viết 1 câu, trong Binh pháp của mình: 故杀敌者,怒也. Cố sát địch giả, nộ dã (thiên  Tác chiến). Nghĩa là: Muốn binh lính hết sợ và hăng say giết địch – Bằng mọi cách, phải làm cho họ tức giận.

Ai cũng biết: “No thì mất ngon – Giận thì mất khôn”. Quần chúng, ai chẳng sợ cường quyền. Bởi, ai cũng biết, thịt da nào, rắn bằng sắt – thép. Muốn làm Cách mạng, phải làm cho họ, hết sợ địch. Muốn, làm cho họ, hết sợ địch, không gì hiệu quả hơn, đó là khích nộ họ.

Còn gì, có thể ngu hơn, khi chính ta, khích nộ quần chúng. Để, họ coi thường và chẳng còn sợ ta nữa.

Mùa Xuân Ả Rập”, là 1 ví dụ. Nó được bắt đầu, bởi: Quan lại thì tham nhũng. Còn Cảnh sát, hống hách và ngược đãi dân lành. Mohamed  Bouazizi, chỉ là 1 chàng trai, đi bán hàng rong, thật thà và chất phác. Ngọn lửa tự thiêu của Anh, thổi bùng lên, ngọn lửa căm giận của quần chúng, đối với chế độ độc tài. Quần chúng, vùng lên. Và ngọn lửa của “Mùa Xuân Ả Rập”, ít nhất, đã thiêu rụi 3 chế độ độc tài, tại Tunisia,  tại Ai Cập và tại Libya.

Những người CS, nên nhìn vào những tấm gương ấy, mà chùn tay lại. Và nên, dõi mắt sang Miến điện, để học và làm theo cách của họ.

文王曰:敢请释其故! Văn vương viết: “Cảm thỉnh thích kì cố”.

Văn vương nói : “Xin Tiên sinh, giải thích từng mục”.

太公曰:民不失务则利之;农不失时则成之;省刑罚则生之;薄赋敛则与之. 俭宫室台榭则乐之,吏清不苛扰则喜之。Thái công viết: “Dân bất thất vụ, tắc lợi chi. Nông bất thất thời, tắc thành chi. Tỉnh hình phạt, tắc sinh chi. Bạc phú liễm, tắc dữ chi. Kiệm cung thất đài tạ, tắc lạc chi. Lại thanh, bất hà nhiễu, tắc hỉ chi”

Thái công trả lời: “Người dân, không lỡ vụ, họ sẽ được lợi. Nhà nông, không lỡ thời, thì bội thu. Giảm đi số tội danh, bớt đi phần hình phạt, đó là, mở cho dân, con đường sống. Nhẹ thuế – ít phí, là đã cho dân rồi. Bớt xây lâu đài – ít xây trụ sở,  người dân, ắt mừng rỡ. Quan lại thanh liêm – không hà khắc – không nhũng nhiễu, dân chúng, mới được yên vui”

民失其务则害之;Dân thất kì vụ tắc hại chi

Doanh nghiệp, nhập nguyên – phụ liệu, để may quần áo mùa hè. Nếu, hành người ta, mà giữ lại. Hết hè, mới trả. Tuy hàng hóa, không bị hỏng hóc gì. Nhưng lỡ vụ, cũng có thể, khiến người ta sạt nghiệp.

农失其时则败之;Nông thất kì thời tắc bại chi.

Nhà nông, không được mưa thuận – gió hòa, mùa màng chắc thất thu.

无罪而罚则杀之. Vô tội nhi phạt tắc sát chi

Vô tội, mà vẫn bắt người ta vào tù. Sau đó, vì không có chứng cớ xác đáng. Nên, không dám, đưa ra xét xử công khai. Dấm dấm – dúi dúi, như lũ trộm đêm – như loài gián đất, sợ ánh sáng mặt trời. Trước tòa, lí luận, không lại được với người ta. Nên, phải dùng bài cùn: Che miệng bị cáo – Bịt mồm luật sư. Định án tùy tiện – Bất cần Luật pháp. Khiến người dân, hàm oan. Việc đó, quá bằng giết người ta.

重赋敛则夺之;Trọng phú liễm tắc đoạt chi.

Thuế và phí, chủng loại thì nhiều. Đã thế: Thuế – chồng lên thuế. Phí – chồng lên phí. Bóc lột dân chúng, 1 cách thậm tệ. Thế gian này, chỉ có lũ cướp ngày, chúng mới hung hăng và táo tợn, để làm như thế.

Hết tiền và có thể vỡ nợ, vào bất cứ lúc nào. Những người CS, chỉ có mỗi cách: tăng thuế. Trước mắt, họ sẽ tăng thuế, đánh vào rượu – bia – thuốc lá. Họ nại ra rằng: Các nước khác, thuế đánh vào những mặt hàng này, rất nặng. Theo logic ấy, tới đây, CS cũng sẽ phải giảm thuế xăng – dầu và ô tô, cho bằng với thông lệ của Quốc tế. Không làm được việc ấy, chứng tỏ: Tất cả lí do, mà họ đưa ra, đều chỉ là ngụy biện. Thực chất, họ đang cố tình, móc túi dân lành. Đâu phải, chỉ dừng lại, ở rượu – bia – thuốc lá. Tương lai, còn nhiều thứ, sẽ bị tăng thuế. Dân lành, sẽ có dịp, “thể hiện lòng yêu nước”, cho đến đồng xu cuối cùng. Chúng ta, hãy chờ xem.

多营宫室台榭以疲民力则苦之;Đa doanh cung thất, đài tạ dĩ bì dân lực tắc khổ chi

Thể chế, mà từ Vua – đến Quan, rặt 1 lũ “Mũi nhòm mồm”. Chúng, không chịu, lo làm – lo ăn. Chúng chỉ thích và đua nhau, xây thật nhiều Cung điện – xây thật nhiều Trụ sở – xây thật nhiều Nhà hát – bày ra thật nhiều, những cuộc vui chơi – tổ chức lia lịa, những “lễ kỉ niệm”. Để, ăn phần trăm và tiêu cho bằng sạch, những đồng tiền của Nhân dân. Chúng, ăn nhiều như thế – chơi nhiều như thế, còn đâu tiền, để xây bệnh viện cho Nhân dân – xây trường học cho con trẻ. Bà con, làm chi mà không khổ.

吏浊 苛扰则怒之. Lại trọc, hà nhiễu, tắc nộ chi

Quan lại hủ bại – hà khắc – nhũng nhiễu, thì dễ khích nộ dân chúng.

Thanh liêm, ai bằng ông Nông Đức Mạnh. Chính ông, phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương Đạo đức của Hồ Chí Minh”. Thanh liêm như thế, cho nên, ông chỉ đủ tiền, mua 1 mảnh đất hết sức lớn và xây được mỗi căn nhà, đẹp như mơ. Bên bờ Hồ Tây, thơ mộng. Đạo đức, ai bằng ông Nguyễn Trường Tô. Chính ông, lên án nghiêm khắc, ông thầy hủ bại Sầm Đức Xương. Bởi, Sầm Đức Xương tổ chức đường dây và cung cấp học sinh của mình: Cho chúng, đi ngủ với quan trên. Đạo đức như thế, cho nên, ông chỉ chơi có vài cô, trong đường dây này. Thế thôi.

Luật nào, hà khắc bằng luật CS. Chỉ vì trò đùa, giật mũ của các bạn gái, 4 thiếu niên, ở Tiên lãng – Hải phòng, phải chịu, tổng cộng 94 tháng tù giam. Trong khi, cũng tại huyện ấy,những kẻ, khiến Đoàn Văn Vươn, “nhà tan – cửa nát”, vẫn nhởn nhơ, ngoài vòng pháp luật.

Doanh nhân nước ngoài, họ ghét và sợ phải đưa hối lộ lắm. Ở nước họ, đấy là trọng tội. Sang Việt nam, “tùy gia – nhập tục”. Họ, cũng phải đưa hối lộ, cho yên thân. Nhưng, họ làm khéo đến mức, cơ quan Thanh tra của chúng ta, dẫu “Giỏi nhất Thế giới”, cũng chẳng thể, tìm cho ra, dấu vết của bất kì 1 vụ, đưa hối lộ nào. Những vụ, bị phát hiện, tất thảy, đều do nước ngoài, họ làm hộ. Người nước ngoài, được chúng ta “trải thảm đỏ – mời đến, để đầu tư”. Vậy mà, còn bị sách nhiễu, đến mức phải “nôn tiền”. Người trong nước, nói đến làm chi, cho thêm sầu lòng.

故善为国者,驭民如父母之爱子,如兄之爱弟. Cố thiện vi quốc giả, ngự dân như phụ mẫu chi ái tử, như huynh chi ái đệ

Giỏi trị nước, phải biết thương Dân. Phải chăm sóc họ : “Như cha mẹ, chăm lo cho đửa con cầu tự – Như người anh, chăm lo cho đứa em bé bỏng, thân thương của minh”.

Giỏi trị quân, phải biết thương lính. Ngô Khởi, là 1 danh tướng, thời Chiến Quốc. Ông, thương yêu lính lắm. Cùng ăn – cùng ở – cùng chia xẻ, những khó khăn – nhọc nhằn với họ. Chuyện kể, có lần, ông đưa miệng, hút mủ ở vết thương của 1 người lính. Mẹ người lính, được tin, khóc ngất. Bởi, bà biết: Ông, thương lính một– Lính, sẽ kính trọng ông mười. Với 1 đội quân cha – con như thế, con bà, sau này, ắt sẽ vì chủ tướng, mà chết. Nó chết, bà biết nương tựa vào ai. Thương con – thương mình, bà không khóc, sao được.

Giỏi kinh doanh, phải khắc sâu trong lòng “Khách hàng là Thượng đế”. Bởi khách hàng và chỉ có họ, mới quyết định, sự sống – chết của doanh nghiệp. Do đó, phải thương yêu và tận tụy chăm sóc họ.

见其饥寒则为之忧, Kiến kì cơ hàn tắc vi chi ưu,

Dân chúng đói rét, minh Quân, thấy ưu tư. Còn lũ hôn Quân, vẫn vô tư. Đi cứu trợ, cho bà con bị thiên tai: Vẫn thấy chúng, quần là – áo lượt và cười toe toét, trước ống kính truyền hình.

见其劳苦则为之悲. Kiến kì lao khổ tắc vi chi bi.

Thấy công nhân, làm nhiều – ăn ít, đến nỗi teo cả cơ. Phải thấy xót thương – phải thấy day dứt. Phải xuống tận nơi, bắt bọn chủ Tư bản, đảm bảo quyền lợi cho công nhân. Không làm được việc ấy, hãy cúi gầm mặt xuống. Đỗ Thị Minh Hạnh, thay mình làm việc ấy. Không cảm ơn và ủng hộ, thì thôi. Mặt mũi nào, mà tống cô ta, vào tù.

赏罚如加于身. Thưởng phạt như gia vu thân .

Khi đặt ra mức thưởng, phải nghĩ rằng, những người đến nhận, chính là con cháu của mình. Nghĩ như thế, người ta, sẽ không thưởng 320.000 VND (tương đương 15 USD), chia đều, cho 3 nhân viên Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức. Vì, họ đã dũng cảm, tố cáo vụ “Nhân bản phiếu xét nghiệm”.

Khi đặt ra mức phạt, phải nghĩ rằng, người chịu phạt, chính là bố mẹ của mình. Nghĩ như thế, người ta, sẽ không phạt 3 ông nông dân, tổng cộng 13 năm tù. Chỉ vì, họ ăn cắp, có 02 (hai) con vịt.

赋敛如取已物. Phú liễm như thủ kỉ vật

Muốn thu thuế và phí của dân , phải đặt mình, vào vị trí của họ. Người dân đóng thế nào, chính mình, cũng phải đóng như vậy. Người dân, bị hạch hỏi, từng đồng tiền mà họ kiếm được. Chính mình, cũng phải công khai, trả lời: Tiền đâu, mà cán bộ CS, ai cũng có nhà cao – cửa rộng. Con cháu họ, đứa nào, cũng được đi du học, ở phương trời Tây, xa vời.

Nghĩ được như thế, khi phạt Điếu cày – Lê Quốc Quân, mỗi người mấy năm tù, vì tội trốn thuế. Tất, phải sờ đến, ông Nông Đức Mạnh – ông Lê Khả Phiêu – ông Trần Văn Truyền … Với, khối tài sản nổi khổng lồ như thế, họ đã đóng, được bao nhiêu tiền thuế. Và, mức án nào, sẽ được dành cho họ?

此爱民之道也. Thử ái dân chi đạo dã

Thưa đại vương, đó là đạo ái dân. Là cốt lõi của phép trị Nước – an Dân.

Lời bàn

Chỉ có bậc minh Quân, mới có thể, hiểu được đạo Ái dân và vận dụng nó, 1 cách thành thạo. Chưa biết đến nó, nên ở lại nhà mình, để chăn gà, nấu cám heo và giặt giũ cho vợ. Chớ bén mảng, tới chốn quan trường. Ra đấy mà làm chi, cho Dân khổ – Nước suy. Ra đấy mà làm chi, cho mình thân bại – danh liệt. Đồng tiền kiếm được, chắc gì đã được tiêu. Nắm xương tàn, chắc gì, sẽ không bị quần chúng quật lên, để hạch tội.

Ở những thể chế Dân chủ: chính quyền, là của người Dân – do ngườiDân bầu ra –  Nhân Dân mà phục vụ. Những thể chế này, “lấy Dân làm gốc”. Bởi thế, người Dân, luôn được thương yêu và quý trọng.

Những thể chế độc tài: chính quyền, là của 1 cái đảng nào đó – do dùng vũ lực mà cướp được – đương nhiên, nó phải vì cái đảng đó, mà phục vụ. Những thể chế này, “lấy vũ lực làm gốc”. Bởi thế, lực lượng vũ trang, được cưng chiều. Quần chúng, chỉ được xếp ngang hàng, với nô lệ. Tâm tư – nguyện vọng của họ, không bao giờ, được nhà cầm quyền, đoái hoài. Rất dễ đoán biết, quần chúng, tin tưởng đến mức nào, đối với những thể chế này.

Viết đến đây, chợt nhớ lời, đại tướng CS Nguyễn Chí Thanh. Ông nói, thật chí lí: “Mất đất, chưa phải là mất nước. Chúng ta, chỉ sợ mất lòng tin của dân. Có lòng tin của dân, là có tất cả”. Hậu thế của ông, không làm được như vậy. Tình hình, rất tồi tệ, cho những người CS. Bằng chứng, chính ông cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, đã phải thảng thốt kêu lên: “Bỏ điều 4, là tự sát”. Câu nói của ông Triết, buộc phải hiểu là: Nếu chấp nhận đa nguyên – đa đảng – bầu cử tự do và bình đẳng, vào ngay lúc này. Đảng CS Việt nam, sẽ bị Nhân dân Việt nam, phế bỏ ngay tức khắc.

Thông qua 1 ví dụ cụ thể, chúng ta hãy nhận chân, 2 cách ái Dân của 2 chế độ:

Cùng là lính, nhưng sinh mệnh của người lính Hoa kì, quý lắm. Họ, được đãi ngộ tốt, được bảo vệ và yểm trợ, đến mức tối đa. Họ chết, bằng mọi giá, chính phủ, cũng phải mang hài cốt của họ, về cho gia đình. Người chết, còn được đối xử như vậy. Người sống, nói đến làm gì.

Đối nghịch, là 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt nam, ở đảo Gạc ma. Các Anh được lệnh, đứng yên, làm bia sống, cho lũ Trung cộng điên cuồng, xả súng giết hại. Đảng CS và nhà nước Việt nam, biết rất rõ, địa điểm hi sinh của các Anh, trên đất nước mình. Nhưng, hài cốt của các Anh, đâu đã được, đưa về cho người thân, cho gia đình và yên nghỉ nơi Đất Mẹ.

Không biết, do Việt cộng chủ trương: Xong việc rồi, không cần đến các Anh nữa, nên không tính chuyện, đưa các Anh về. Hay, do Trung cộng, chúng vô nhân đạo, nên không chịu trả lại, hài cốt các Anh. Những người CS, nên nhớ câu  này:

Thương dân, dân lập đền thờ

Hại dân, dân đái ngập mồ, thối xương

Nguyễn Tiến Dân

Địa chỉ : 208 phố Định Công Thượng – quận Hoàng mai – Hà nội

Điện thoại : 0168-50-56-430

 

 

Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 4: Minh truyền

Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 4: Minh truyền

Nguyễn Tiến Dân

26-11-2014

MINH TRUYỀN

Thiên này, lấy giác độ sống – còn của 1 quốc gia, mà thảo luận phép trị Nước.

Nhà Chu, nghiên cứu rất kĩ, về vấn đề này. Cha truyền – con nối, đều dạy nhau,Nước mất – Nhà tan, bởi:

 Khinh thường quần chúng. Nên, chẳng được họ, ủng hộ

– Dốt nát và nhu nhược. Nên, dễ bị kẻ khác, đè đầu

– Bản thân xấu xa và hủ bại. Nên, nói chẳng ai nghe.

Họ, không đổ lỗi cho người khác. Họ, dạy nhau, phải tu dưỡng Đạo đức. Họ, dặn nhau, không bao giờ, được sống buông thả. Chính vì vậy, họ giữ vững được chính quyền. Trong suốt 800 năm ròng, không một “thế lực thù địch và phản động” nào, có thể lật đổ được họ. Không biết, trên Trái đất. có triều đại nào, tồn tại được lâu như vậy không?
明传:

文王寝疾,召太公望,太子发在侧. Văn vương tẩm tật, chiêu Thái công Vọng, Thái tử Phát tại trắc.

Văn vương, bệnh nặng. Ngài cho vời, Khương Thái công và Thái tử Cơ Phát, tới bên giường bệnh.

曰:“呜呼!天将弃予,周之社稷,将以属汝. 今予欲师至道之言,以明传之子孙”.

Viết: Ô hô! Thiên tương khí dư, Chu chi xã tắc, tương dĩ thuộc nhữ. Kim dư dục sư chí đạo chi ngôn, dĩ minh truyền chi tử tôn .

Vương, nắm tay 2 người, mà dặn dò: “Ô hô! Trời sắp bỏ ta. Xã tắc nhà Chu, nay mai, sẽ giao cho con quản lí. Nay, mời Quốc sư đến. Xin Người, hãy vì Ta, mà cởi lòng, nói ra những điều, nung nấu nhất trong tâm can, về phép trị Nước – an Dân. Cơ Phát con, đó cũng chính là di chúc, mà Cha sẽ để lại, cho con và cho cháu chắt, muôn đời sau”.

Ôi, nhân tình – thế thái. Cùng là cách, ký thác con côi. Thế gian, mỗi người mỗi kiểu. Lưu Bị, vụng về đóng kịch, vờ muốn trao lại quyền hành, cho Khổng Minh. Sau khi bị từ chối, mới dặn con, coi Khổng Minh như cha. Chu Văn vương, giỏi – khéo và thâm thúy hơn nhiều. Ông chân tình, dặn con: Thiêng liêng, như Di chúc, Ta cũng để Khương Thái công, nói thay. Bởi, Khương Thái công, thấu hiểu ruột gan Ta. Ta với Khương Thái công, tuy 2 mà là 1. Lời của Thái công, chính là lời của Ta. Sau này, phải nghe lời chỉ bảo của Thái công. Hai Thày – Trò, phải kết hợp với nhau, để giữ vững đại nghiệp.

太公曰:王何所问?Thái công viết: “Vương hà sở vấn?

Thái công nói: “Đại vương, muốn hỏi điều gì?”

文王曰:先圣之道,其所止,其所起,可得闻乎?Văn vương viết: Tiên Thánh chi đạo, kì sở chỉ, kì sở khởi, khả đắc văn hồ?

Văn vương nói: “Thánh – Hiền thủa trước, khi luận về đạo trị Nước – an Dân, họ đã đúc kết: Nguyên nhân nào, khiến Nước mất – Nhà tan. Nguyên nhân nào, khiến Nước mạnh – Dân giàu. Quốc sư, có thể nói, cho Cơ Phát nghe, được không?”

Cùng là cách, chăm lo cho con. Đại bàng, khác hẳn chim sẻ.

Đại bàng, để lại Đất nước cho con. Nhưng, không dạy con, cách ăn cướp – cách bóp nặn Thiên hạ, để ăn trên – ngồi trốc họ. Đại bàng, dạy con cách giữ chế độ lâu dài và chọn cho con, một ông thày tuyệt vời. Để, chỉ bảo cho con, cách làm việc đó.

Chim sẻ, dạy con cách liều lĩnh, lao vút vào thinh không, để thể hiện mình. Trong khi, con nó, đâu có bộ lông dày – đâu có “6 đốt xương trụ vững chắc”. Không kiệt sức, cũng phải chết rét. Đó là tương lai, của chú sẻ non.

Khi con còn trẻ – dốt nát và không có bản lĩnh. Cố tình, đẩy nó ra chính trường. Đó là, cách nhanh nhất, để giết chết nó.

太公曰:见善而怠.  Thái công viết: Kiến thiện nhi đãi”.

Thái công trả lời: “Coi khinh quần chúng bần hàn – lương thiện”. Đó là nguyên nhân số 1, để mất chế độ.

Một chế độ, ra rả kêu rằng, họ “lấy Dân làm gốc”. Nhưng, thực chất, chúng coi Nhân dân, chỉ như 1 bầy nô lệ. Chúng, không chăm lo cho Dân, đã đành. Ngược lại, thông qua, sưu cao – thuế nặng, chúng bóc lột họ, đến tận xương – tận tủy Chúng, lăng nhục – mạt sát họ thậm tệ. Ai cũng có thể, là thằng – là con – là “các thế lực thù địch và phản động”. Chúng, thẳng tay đàn áp, khi người Dân, không nói và làm theo chúng. Thích bắt – là bắt. Thích thả – là thả. Luật – lệ, do chính chúng ban ra, có cũng như không. Bởi, chúng chỉ thích, dùng luật rừng. Có tai như điếc – Bởi, chúng đâu có thèm nghe, tiếng ai oán, vang động khắp trời của dân chúng. Có mắt như mù – Bởi, chúng đâu có thèm nhìn, cuộc sống cơ hàn của quần chúng. Dối trá và bịp bợm. Bởi, chúng luôn cho rằng, quần chúng bần hàn, chỉ là 1 lũ ngốc.

时至而疑,Thời chí nhi nghi.

Vua – Chúa ngu dốt, cho nên nhu nhược – đớn hèn. Thời cơ đến, không bao giờ dám quyết. Đó, đâu phải, là phẩm Đức của bậc Đế vương. Không có phẩm Đức của bậc Đế vương, nhưng vẫn an nhiên, ngồi trên ngai báu. Ắt sẽ bị, Dân chúng coi thường – Thuộc hạ khinh bỉ. Không có nhiều người, tự nguyện “làm đầy tớ cho thằng dại”. Họ, sẽ hành động. Đó là, nguyên nhân thứ 2, để mất ngôi báu.

Lãnh thổ – lãnh hải, bị ngoại bang công khai mò đến. Chúng ngang nhiên khoanh vùng – đóng cọc, để đào bới. Trong nhà – ngoài ngõ, đều sôi lên sùng sục. Ai cũng muốn, làm cho “ra ngô – ra khoai”, với lũ kẻ cướp. Có mấy cách, để lựa chọn:

-Ngồi lại với nhau, để nói chuyện “phải – trái”.

-Không được, thì lôi nhau ra Tòa.

-Cuối cùng, là dùng nắm đấm, để nói chuyện với nhau.

Nhưng, cả cung Vua – phủ Chúa, đều im thin thít. Nghị viện, cũng câm như hến. So vai – rụt cổ, thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Nhân dân xuống đường, thì đàn áp người ta. Trong khi, lại muốn Quốc tế biểu tình, để ủng hộ mình. Rõ là lũ khôn vặt. Tài – trí, chỉ sánh ngang, với tầng lớp tiểu nông. Đâu có, khí phách của bậc Đế vương. Uy tín và ngôi báu, không mất mới là sự lạ.

知非而处,Tri phi nhi xử.

Biết điều sai trái – xấu xa, vẫn thản nhiên làm. Lúc đó, hủ bại, đã trở thành bản chất của giới cầm quyền. Khi mình hủ bại, “há miệng – mắc quai”. Nói – chẳng ai nghe. Đe – chẳng ai sợ. Không điều hành được Đất nước, tất phải mất nước. Đó là, nguyên nhân thứ 3, để mất chính quyền.

Biết kẻ bất nhân – vẫn dùng. Cổ nhân dạy, khi “sâu bọ lên làm người”, lúc ấy, thế nước đã mạt. Nay, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, đã công khai thú nhận : Cán bộ của ông, đầy 1 lũ sâu bọ. Dĩ nhiên, là vô tài và thất đức. Nhưng, chúng vẫn được giao cho quyền hành. Thậm chí, chúng phá hoại, cũng không bị phế bỏ. Vì sợ: “bầu không kịp”. Thế gian, chỉ có CS, mới dám làm việc này. Còn các nước Dân chủ, họ kinh hãi loài sâu bọ. Sợ chúng, làm “hỏng nồi canh”. Nên không bao giờ, để chúng mon men, tới chốn quan trường.

Biết của bất nghĩa – vẫn nhận. “Ăn uống ở nhà hàng này, nhà hàng nọ, tiền ấy chẳng phải từ tham nhũng, thì từ đâu mà ra? Không tham nhũng, lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này – chức vụ kia…”. (Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam). Có lẽ, ông Chủ tịch Quốc hội, nên bố xung thêm: “Không bóp nặn của Dân lành – không bóp nặn của thuộc cấp, lấy đâu tiền, để xây biệt thự. Lấy đâu tiền, để gửi Ngân hàng nước ngoài. Lấy đâu tiền, để ăn chơi văng mạng…” . Và, ông hãy thử, sờ tay lên gáy của mình. Ông, hãy công khai tài sản và giải trình, nguồn gốc của chúng, cho Thiên hạ biết. Có dám làm không, mà nói hăng thế.

Biết việc thất đức – vẫn làm. Như Hitler đó: Sẵn sàng, tuyệt diệt dân Do Thái. Sẵn sàng, đặt ách nô dịch lên toàn châu Âu và thế giới. Đốt nhà Quốc hội Đức, để vu oan – giáng họa, cho những người Cộng sản. Giết lính biên phòng Đức, rồi vu cáo cho Ba lan, mà phát động Đệ nhị thế chiến. Chung cuộc của Hitler, chắc chẳng cần phải nhắc lại.

Suy cho cùng, vẫn không bằng, có nhà nước, cho xe tăng – xe bọc thép, chà nát học sinh – sinh viên của mình. Khi, các cháu, chỉ có khát vọng Dân chủ – Tự do. Và, trong tay, không có nổi, một mẩu thép.

Biết việc trái đạo – vẫn đem ra thi hành.

Xưa, An Dương vương, tự dẫn sói vào nhà, khiến Nước mất – Nhà tan.

Nay, nhà nước CS, phớt lờ lời cảnh báo của tướng Giáp, để dẫn Trung cộng vào Tây nguyên – Tử huyệt của Đất nước. Nào có phải, họ đến, là để làm giàu cho Đất Việt. Họ đến, để khai thác Bô xít. Về kinh tế, thì lỗ. Về môi trường, thì độc hại và tiềm ẩn, thảm họa cho Đất nước. Về văn hóa, làm nhạt nhòa, bản sắc văn hóa của các dân tộcTây nguyên. Tai hại như thế, nhưng đã là “chủ trương lớn của đảng”, nên cứ phải, nhắm mắt – nhắm mũi mà thi hành.

此三者道之所止也。Thử tam giả, đạo chi sở chỉ dã

Chế độ nào, hội đủ 3 yếu tố này, chế độ đó, chắc chắn sẽ bị diệt vong .

柔而静.  Nhu nhi tĩnh

Ôn hòa và mềm dẻo – Bình tĩnh và công bằng, để giải quyết công việc.

Là nước lớn, nhưng ai cũng nhận thấy, Hoa kì, hành xử rất thân thiện và có trách nhiệm. Họ không hung hăng, bắt nạt các nước nhỏ. Không sợ xun vòi, trong quan hệ với các nước lớn. Họ nguyện bảo vệ, các giá trị của Tự do – Dân chủ. Bởi vậy, đi đến đâu, Tổng thống Hoa kì, cũng được dân chúng yêu mến và chào đón nồng nhiệt. Một trời – một vực, khác với thái độ của họ, dành cho lãnh đạo CS.

恭而敬,Cung nhi kính.

Tôn trọng dân chúng và cẩn thận từng li – từng tí, trong công viêc hàng ngày. Người như thế, đâu dễ mắc, những sai lầm ngớ ngẩn.

Hãy thử 1 lần, ngắm nhìn bức ảnh, ông Obama, cho 1 cháu bé 5 tuổi, sờ lên đầu của mình. Ta biết, ông tôn trọng dân chúng, đến mức nào. Hãy nhìn, những bức ảnh, cán bộ CS, đứng ưỡn bụng và dạng háng, trước công chúng. Hãy nhìn, những cái vỗ tay hững hờ của họ. Ta sẽ biết, trình độ văn hóa của họ, cao đến mức nào.

强而弱.  Cường nhi nhược.

Cành cây già, tất cứng. Cứng, thì dễ gãy. Những nhành cây to, mới nhú, nó còn mềm. Nó, có thể phát triển được. Đó là, lí tự nhiên.

Con người ta, dù mạnh đến đâu, cũng cần phải khiêm tốn. Khiêm tốn, giúp người ta, vươn lên mãi. Ương ngạnh cho rằng, chỉ có mình mới đúng và phủ nhận, tất cả những quan điểm khác mình. Như thế: khác gì. cành cây già – khác gì, cỗ xe đã lên đến đỉnh dốc và chuẩn bị đổ đèo. Chỉ có xuống và chẳng còn lên được nữa.

忍而刚.  Nhẫn nhi cương.

Thời cơ chưa đến – nhẫn nhịn đợi thời . Thời cơ chin muồi – kiên quyết nắm chắc, để đoạt thủ thiên hạ. Nhịn những cái nhỏ. Nhưng, không bao giờ được nhượng bộ, những vấn đề, có tính nguyên tắc.

Khi đàm phán, để hoạch định Biên giới trên bộ: Nguyên tắc chung, là phải tôn trọng Hiệp ước Pháp – Thanh. Tôn trọng những cột mốc, đã được cắm, theo qui định của  Hiệp ước này. Khi, bổ xung cột mốc mới, có thể nhượng bộ, xê xích tí chút. Không hiểu sao, Việt cộng, dễ chấp nhận nguyên tắc, do Trung cộng đưa ra: “Trên các dòng sông chung, Biên giới Quốc gia, được tính theo trung tuyến của dòng nước chảy”. Kết quả, Việt nam, mất đứt đi, ít nhất là nửa bãi Tục Lâm – nửa thác Bản Giốc.

Tại sao họ bị lừa? Chỉ có Trời, mới biết.

此四者,道之所起也.  Thử tứ giả, đạo chi sở khởi dã.

Quân chủ, có 4 đức tính này, mà lãnh đạo xã hội. Xã hội ấy, nhất định: Dân thì giàu – Nước thì mạnh.

故义胜欲则昌,欲胜义则亡. Cố, nghĩa thắng dục tắc xương, dục thắng nghĩa tắc vong.  

Ở 1 Quốc gia, khi quyền lợi của Đất nước, được đặt trên quyền lợi của đảng phái – được đặt trên quyền lợi của gia đình. Đất nước, sẽ hưng thịnh. Bởi, nó thuận Đạo: Quân – Sư – Phụ. Ngược lại, khi “Hiến pháp của Đất nước, đứng đằng sau Cương lĩnh của đảng”. Khi đó, dục vọng của đảng CS, đã chiến thẳng công lí. Kết quả:  “đất nước Việt Nam, mãi mãi là đất nước vô pháp luật” (Đại tá Phạm Đình Trọng). Và, không thể phát triển được.

Trong con người của bậc Vua – Chúa , khi chính nghĩa, chiến thắng dục vọng thấp hèn của bản thân, Quốc gia sẽ hưng thịnh và ngược lại. Đổng Trác và Lã Bố, cùng tranh nhau nàng Điêu Thuyền. Đó là, khởi đầu cho quá trình: Đổng Trác chết – Lã Bố vong. Dân Việt, khinh cái sự ấy lắm. Họ, gọi cái sự ấy, là: “cha – con, ăn chung 1 máng”. Không biết, ở Việt nam, có lãnh đạo nào, mà cha – con, đã từng ăn chung 1 máng chưa?

敬胜怠则吉, 怠胜敬则灭。Kính thắng đãi tắc cát, đãi thắng kính tắc diệt.

Từ việc lớn, cho đến việc nhỏ – Từ viêc quan trọng, cho đến chuyện bình thường. Khi đã bắt tay vào làm, người Nhật, đều làm với niềm đam mê. Họ, làm cho bằng tốt, mới thôi. Chính vì vậy, sản phẩm, mang nhãn hiệu Made in Japan, được người tiêu dùng, rất ưa chuộng. Ngược lại, người Trung quốc, coi thường khách hàng. Sản phẩm của họ làm ra, có chất lượng tồi và thường được khuyến mại thêm, sự độc hại. Chính vì vậy, khách hàng, chỉ tìm đến họ, khi không còn sự lựa chọn nào khác.

Chăm chỉ làm việc, để tạo ra nhiều của cải cho xã hội, thì tốt. Chăm ăn – chăm chơi, mà không chăm làm, mấy chốc mà bị diệt vong. “Rừng vàng – Biển bạc”, đâu có tác dụng gì, với lũ lười biếng.

Lời bàn

Vi trùng, hiện diện, ở khắp mọi nơi. Mầm bệnh, trong người, ai mà không có. Người ta ốm, bởi vì người ta yếu. Họ, khỏe mạnh, bởi có cơ thể tráng cường. Đó là, lí tự nhiên.

Các thế lực thù địch và phản động” với chính quyền, nơi nào mà không có. Đảng CS Mĩ, chẳng hạn. Họ, công khai hoạt động và hoạt động có tổ chức. Họ ra rả, nói vào tai dân Mĩ: Chủ nghĩa Tư bản, là xấu xa và tồi tệ. Hãy ủng hộ, để họ lên nắm quyền. Họ, sẽ lo cho dân Mĩ, một Thiên đường, vạn lần tốt hơn hiện nay. Nhưng, dân Mĩ thông minh. Qua lá phiếu của mình, họ phủ nhận nó. Chính quyền hiện nay của họ, thực sự đã là của Dân – do Dân và vì Dân. Nên, nó cực kì vững mạnh. “Các thế lực thù địch và phản động”, nói thế, chứ nói nữa, nó cũng chẳng thể đổ được.

Ngược lại, “Các thế lực thù địch và phản động” của chính quyền CS: Qui mô – nhỏ lẻ. Hoạt động – phân tán. Hành động – không thống nhất. Tài chính – chẳng có gì. Nhưng, sao chính quyền CS, luôn sợ nó, đến mức phát cuồng lên? Đơn giản, vì chính quyền CS, không dựa vào Dân. Nên, nó rất yếu. Chỉ hắt hơi – xổ mũi sơ sơ, cũng có thể lăn đùng ra, mà đi đến, Đài hóa thân Hoàn vũ. Nga xô và khối CS Đông Âu, là những ví dụ.

Yếu, thì phải chết. Đó là Chân lý. “Tháo dạ, đừng đổ vạ cho cơm”. Đừng đổ lỗi, cho “Các thế lực thù địch và phản động”. Đó chỉ là, ngụy biện. Là cái cớ, để đốt tiền, cho các lực lượng vũ trang – cho bộ máy tuyên truyền. Mà thực chất, chúng chỉ là, lũ ăn hại.

Luận, về sự sụp đổ của 1 thể chế, nhà Chu cho rằng, có 2 nguyên nhân cơ bản và họ đưa ra, 2 đối sách tương ứng, để đối phó:

Thứ nhất, do người trong nước, vùng lên lật đổ. Có thể, do khởi nghĩa vũ trang. Tỉ như, cách mà Nga xô, đã làm với chính quyền Nga hoàng. Có thể, thông qua hình thức ôn hòa. Tỉ như, nhà Trần, giành chính quyền từ tay nhà Lý. Tỉ như, Nhân dân Ba lan, giành chính quyền, từ tay thể chế CS.

Thứ 2, do ngoại bang, mang quân đến phế bỏ. Tỉ như, người Việt nam, đã làm ở Campuchia.

Lịch sử, đã chỉ rõ: Vô luận, trong bất cứ trường hợp nào. Chính quyền bị lật đổ, cũng đang, ở trong trạng thái mục ruỗng – thối nát , đến tận xương – tận tủy. Vì vậy, nhà Chu, đề ra biện pháp đối phó, hết sức chủ động. Họ không mong, đối lập yếu đi. Họ chỉ mong, xây dựng chính quyền của họ, vững mạnh. Tất nhiên: Không phải, bằng bạo lực – Không phải, bằng tuyên truyền dối trá. Xây dựng chính quyền vững mạnh, phải dựa trên cơ sở: Tự sửa mình và Chăm lo cho “gốc – rễ”. Đó là, Nhân dân.

Riêng, trong trường hợp “mang quân, đến phế bỏ người”. Nhà Chu, không dạy con cháu, cách “ăn sống – nuốt tươi”, cách “lấy thịt – đè người”. Như người Mĩ, đã từng làm ở Iraq.  Họ dạy con cháu, cách khôn khéo hơn nhiều. Cách đó, mới là, “Âm mưu diễn biến hòa bình” chính hiệu. Đề tài này, xin được trình bày ở bài sau: Văn phạt.

Nguyễn Tiến Dân

Địa chỉ : 208 phố Định Công Thượng – quận Hoàng mai – Hà nội

Điện thoại : 0168-50-56-430

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: