Bài 4C – ĐỔI MỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỂ PHẤN ĐẤU TRỞ THÀNH ĐẢNG CỦA DÂN TỘC

 (Bài viết về đại hội XII sắp tới của ĐCSVN, bài cuối trong loạt ba bài: Ba việc hầu như không thể, nhưng phải tìm cách làm)

Nguyễn Trung

Trong các bài trước, đặc biệt là trong bài 4B (Bàn về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường), tôi đã cố gắng đánh giá tình hình mọi mặt của đất nước, đi tới nhận định tổng quát: 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên của đất nước là một giai đoạn phát triển thất bại. Xót xa lắm, nhưng hiểu biết của tôi là như vậy và phải thật lòng nói lên như vậy. Tôi không nói dối được. Ai muốn lợi dụng những điều tôi viết ra như thế vào việc phá hoại đất nước, đấy là dã tâm của họ, qua đó họ tự nói lên họ là ai. Đất nước này đủ trưởng thành để đối xử với những dã tâm này. Thật ra tôi chỉ phải giằng co với chính mình để dám sống vì sự thật mà thôi. Bài này tôi xin tập trung trình bày những suy nghĩ của mình về những nguyên nhân của thất bại từ phía đảng.

  1. Bản “kết toán” 40 năm đất nước độc lập thống nhất: Chưa ra khỏi vòng kiềm toả của Trung Quốc đại bá

“Kết toán” này là kết luận tôi rút ra từ suy nghĩ cả năm nay về đại hội XII sắp tới, cứ đắn đo mãi có nên viết ra hay không. Vì là 40 năm, nên có quá nhiều chuyện để nói. Tôi cố tìm điều gì để nói có thể khái quát lên được tất cả thực trạng đất nước hiện tại. Sự kiện cái giàn khoan HD 981 khiến tôi lấy khả năng ứng phó của đất nước đối với Trung Quốc đại bá làm hệ quy chiếu để đánh giá mọi cái đất nước đã làm được và mọi cái đất nước chưa làm được / thất bại, vì muốn hay không Trung Quốc vẫn là vấn đề thách thức số một đối với đất nước.

I.1. Đảng Cộng Sản Việt Nam là tù binh của chính mình

Nội dung cơ bản của các cuộc kháng chiến là vấn đề giải phóng dân tộc khỏi sự xâm lược của nước ngoài. Vì nhiều lý do liên quan đến cả xương máu nữa, nhiệm vụ lớn lao này che khuất phần nào một nhiệm vụ lớn lao khác quan trọng không kém: giải phóng dân tộc khỏi mọi nghèo hèn lạc hậu để trở thành dân tộc tự do. Toàn bộ nỗ lực sau khi kháng chiến kết thúc chỉ tập trung vào xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu; hầu như bỏ quên hẳn nhiệm vụ giải phóng để dân tộc trở thành dân tộc tự do – nội dung cốt lõi là vấn đề dân chủ.

Trong những bài trước, đặc biệt là trong bài 3 (Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?) tôi đã đi tới kết luận: Đất nước được độc lập, nhưng nhân dân đến hôm nay vẫn chưa thật sự là người chủ của đất nước, vì đến nay vẫn đang thiếu một thể chế chính trị thực hiện quyền làm chủ đất nước của nhân dân. Thậm chí trong những bài này tôi đi tới kết luận: Trong cục diện mới của quốc tế và khu vực đầy thách thức hiểm nghèo, nhất là có vấn đề Trung Quốc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay đòi hỏi phải được tiến hành bởi một dân tộc tự do. Bởi vì chỉ có phát huy yếu tố con người để làm nên sức mạnh quốc gia, đất nước chúng ta mới có thể trụ vững và phát triển được trước mọi thách thức. Nghĩa là cuộc sống khách quan đặt ra cho đất nước đòi hỏi như vậy.

Thế nhưng trong cuộc sống thật, duy ý chí của đảng lại lựa chọn tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội ngay sau 30-04-1975.

Tất nhiên thất bại, phải đổi mới, song đảng vẫn duy ý chí tiếp, chỉ điều chỉnh lại thành kiên định định hướng xã hội chủ nghĩa, mặc dù đến bây giờ đảng vẫn chưa xác định được rõ ràng nó là cái gì (bài 4A – Bàn về cải cách thể chế chính trị). Ý thức hệ cộng sản bắt buộc đảng phải làm như vậy, đảng không thể nghĩ khác và không thể làm khác được. Nhìn lại, vì những lẽ này có thể nói: Ngay sau 30-04-1975, đảng với tính cách là người giải phóng, đã bị ý thức hệ của chính mình bắt làm tù binh.

Kiên định như vậy, lại với quan điểm phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của đảng, nên như là một tất yếu, đảng chỉ tạo lập ra được trong thời bình cho nhân dân “một chế độ chăn dắt” (bài 4A, phần III,1.). Đất nước phải sống dưới vòm trời của ý thức hệ và bên trong ranh giới chế độ chính trị của đảng vạch ra, vượt ra ngoài là trái đạo, là thù nghịch. Trong những điều kiện như vậy, quyền lực và tha hoá ngày một ngày hai cuối cùng đã tước vũ khí hoàn toàn vai trò lãnh đạo của “tù binh đảng”, chỉ còn để lại mỗi cái tính cách là đảng cai trị cho đảng. Chế độ đảng xây dựng chuyển dần thành chế độ toàn trị, dù là nó mang tên là Cộng Hoà Xã Hội Chủ  Nghĩa Việt Nam. Trong các quốc gia có nền kinh tế thị trường, chế độ chính trị này thuộc loại lạc hậu nhất trên thế giới và đang trực tiếp kìm hãm sự phát triển của đất nước ta. Không phải ngẫu nhiên Lý Quang Diệu cho rằng đứng đầu Đông Nam Á hôm nay lẽ ra phải là Việt Nam!

Sự thật là đất nước 40 năm qua đã phát triển dưới mức tiềm năng và cơ hội cho phép và đồng thời đã để xảy ra quá nhiều hiện tượng hoang dã. Trong những thập kỷ vừa qua, thực tế phát triển này cùng với sự kìm hãm của chế độ chính trị toàn trị đã huỷ hoại không ít tiềm năng  của đất nước, để lại nhiều hậu quả nặng nề cho tương lai theo nghĩa “đời cha ăn ốc đời con đổ vỏ!” – nhìn theo góc độ tàn phá môi trường tự nhiên, gánh nặng nợ nần của quốc gia, sự tha hoá các thang giá trị đạo đức – văn hoá – xã hội, gánh nặng tụt hậu… vân vân…

Tha hoá và tham nhũng ngày càng lên ngôi, nhiệm kỳ sau hoành hành quyết liệt hơn nhiệm kỳ trước. Điều vô cùng cay đắng là: Cả một cái đảng có truyền thống cách mạng bao nhiêu thế hệ từ năm 1930, cuối cùng đã gục ngã bởi quá trình tha hoá và tham nhũng của chính mình trong thời bình làm chủ đất nước. Cái sa đoạ nhất của mọi sa đoạ dẫn tới đảng gục ngã là sự dối trá. Đến hôm nay đảng vẫn hoàn toàn vô cảm với sự diễn biến hoà bình này.

Không dừng lại ở đây, sự gục ngã này đã xô đẩy theo cả một đất nước có lịch sử hào hùng vào ách cai trị của cái chế độ toàn trị do đảng dựng nên, được vận hành dưới hình thức “chăn dắt” và bằng các chính sách ngu dân, tất cả dưới vòm trời ý thức hệ và bên trong ranh giới của chế độ toàn trị. Không thể nói khác: Đấy chính là một kiểu nô dịch, thiết lập trong các khung lồng định hình rõ ràng cho tư duy và toàn bộ đời sống đất nước, gần đây được gia cố thêm bằng những quy định trong Hiến pháp quân đội và công an phải trung thành với đảng…  Thật không còn gì phi lý và chua sót hơn: Kháng chiến xoá bỏ được ách nô dịch của bên ngoài, để cuối cùng bây giờ nhân dân phải chuốc lấy ách nô dịch từ bên trong do chính mình cũng góp phần dựng nên. Sự thật trần trụi của thể chế chính trị nước ta 40 năm qua là như vậy, mặc dù có thể nói trong thâm tâm đảng không muốn thế, song tha hoá của đảng đã gây ra như thế.

Cái ách nô dịch dựng nên tự bên trong như thế hàng thập kỷ nay lúc miễn cưỡng lúc thuận theo là đồng minh với sự can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc. Cả hai cái này bổ sung cho nhau hay cùng nhau gây ra không ít tai ương cho đất nước ta, đó là Thành Đô, là các thua thiệt trong phân xử biên giới trên bộ và dưới biển, là bô-xít Tây Nguyên, là hàng trăm điều đau lòng khác – trong đó cái đau nhất là sự lệ thuộc vào Trung Quốc đến hôm nay vẫn chưa tìm được cách thoát ra…

Trở thành tù binh của ý thức hệ mà chính mình tôn thờ, đảng đẩy cả nước vào một ách nô dịch mới, “ma tuý quyền lực đảng” mang tên gọi độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội  giữ cho đảng và toàn bộ hệ thống chính trị của nó ngày càng xa mọi cam kết đối với đất nước đã ghi trong cương lĩnh.

Toàn bộ bức tranh chế độ 40 năm là như thế.

Các tội ác tham nhũng tiêu cực, bất công, sự trấn áp, tình trạng tha hoá của hệ thống chính trị, xã hội xuống cấp, đất nước tụt hậu ngày càng nguy hiểm, chủ quyền quốc gia bị xâm phạm và tiếp tục bị uy hiếp nghiêm trọng…, tất cả những điều đau đớn này làm nhức nhối câu hỏi: Chẳng lẽ dân tộc ta hy sinh xương máu bao nhiêu thế hệ để đi tới cái đích như hôm nay? Có những bậc cha mẹ của cơ sở kháng chiến cũ đã thốt lên: Biết thế này tụi tao ngày xưa không cưu mang tụi bay…

Một đất nước như nước ta đáng phải chịu số phận như hôm nay? Gần bốn triệu đảng viên của đảng hãy giữ lại cho mình đạo đức làm người phải có để lặn vào dân mà hỏi cho ra nhân dân hôm nay đang nghĩ gì về đảng và đang mong muốn gì cho đất nước.

I.2. Ách nô lệ của tư duy

Sinh ra lúc đất nước còn bị là thuộc địa, lớn lên theo cách mạng rồi theo đảng từ lúc đầu còn xanh, cả đời càng về già tôi càng tự hỏi mình: Cái gì cứ giam hãm mãi đất nước ta trong lạc hậu và tụt hâu như thế này? Không thể nói nhân dân ta ươn hèn và không ý thức được thân phận của mình, nếu như không muốn nói rằng không phải dân tộc nào trên thế giới này cũng ngoan cường chống lại số phận nghèo hèn của mình như dân tộc ta. Hỏi như thế, chỉ càng nhức nhối thêm câu hỏi khác: …Thế mà tại sao nhân dân ta hôm nay vẫn còn đứng rất xa cái đích độc lâp – tự do – hạnh phúc như thế này?

Câu trả lời tôi tự tìm ra cho mình, nghĩa là tôi chấp nhận: Trăm tội có lẽ chỉ tại một điều là ta chưa xác lập nên được tư duy của chính mình, ta chưa thật là ta!?..

“Ta” ở đây là nhân dân ta, dân tộc ta.

Thời phong kiến, nghĩa là cách đây khoảng 2 thế kỷ trở về trước, thế giới của nước ta hầu như chỉ là Trung Quốc, ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Quốc là tự nhiên, kể cả trong những triều đại nước ta độc lập. Thời ấy đành chấp nhận như vậy.

Cho đến khi cách mạng nước ta với sự xuất hiện của ĐCSVN năm 1930 tham gia vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, toàn bộ hệ thống tư duy của đảng cho tới hôm nay là chủ nghĩa Mác – Lênin (CNML) được chế biến và được Việt Nam hoá, lúc này lúc khác được cách điệu chút ít theo thời thế. Nói như vậy để khẳng định 2 đặc điểm: (a)chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta kể từ khi du nhập cho đến hôm nay chỉ là một bản sao “tam sao thất bản”, nghĩa là có nhiều điều không phải là nguyên bản [1]; (b)độc lập tự chủ trong tư duy của đảng chỉ là những “cách điệu” cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam từng thời song vẫn nằm trọn vẹn trong khung khổ của ý thức hệ cộng sản với cái tên gọi là CNML. Nghĩa là đảng sống bằng tư duy vay mượn, coi nó là lý tưởng của mình, cố áp đặt nó vào đất nước, vì tin nó là duy nhất đúng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Đảng đã ngấm sâu trong xương tuỷ mình thứ tư duy vay mượn và duy ý chí  mác – lênin bản sao (chứ không phải nguyên bản, vả lại nguyên bản của nó cũng lỗi thời rồi) và nắm độc quyền chân lý, cho nên tới hôm nay nước ta vẫn chưa tạo ra được tư duy của chính mình cho những vấn đề của nước mình, mặc dù hầu hết đảng viên trong thế hệ tôi, trong không ít các thế hệ sau, đều hít thở hàng ngày với ý chí “không gì quý hơn độc lập tự do”, “tinh thần độc lập tự chủ”…

Lọt vào quỹ đạo của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lại đúng vào thời đại được những người cộng sản đặt tên là “hai phe bốn mâu thuẫn”, rồi tiếp theo là thời kỳ chiến tranh lạnh [2], có thể đi tới nhận định: Trong bối cảnh quốc tế và với nội tình quốc gia như vậy, con đường đất nước ta đã đi từ 1930 cho tới ngày 30-04-1975 gần như là tất yếu, nghĩa là không thể tránh khỏi, không thể khác được – cho dù là vô cùng đau thương và đẫm máu. Từ hàng chục năm nay, nhất là từ khi “rũ áo từ quan”, tôi đã cố khách quan suy nghĩ rất nhiều về con đường này, đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau, phác hoạ thử nhiều con đường khác nhau, song cuối cùng vẫn phải đi đến kết luận như vậy. Bài học rút ra từ con đường đất nước đã phải đi qua này thì có nhiều, quan trọng có tính mất còn đối với đất nước cho cả hiện tại và tương lai. Nhưng kết luận thì chỉ có một như vậy mà thôi [3], dù rằng trên con đường này đôi lúc hé mở một lối đi khác nào đó, nhưng chỉ hé mở rồi tắt ngấm ngay – đơn giản vì cái trật tự quốc tế “hai phe bốn mâu thuẫn” hồi ấy kinh khủng lắm, tất cả những gì đã rơi vào quỹ đạo của nó đều bị nghiền nát – cứ nhìn các cuộc nổi dậy tại các nước Đông Âu cũ XHCN từ 1956 cho đến khi các chế độ này tan rã cuối thập kỷ 1980s thì rõ; thực tế ở Việt Nam cũng quyết liệt không kém. Mà lịch sử thì không thể vẽ lại được.

Đúng là kể từ sau 30-04-1975, là một nước độc lập, nước ta hoàn toàn có điều kiện tìm ra một con đường riêng của mình cho nước mình. Song như tôi đã nhiều lần trình bầy, tư duy ý thức hệ cộng sản đã biến đảng thành tù binh của chính nó và không cho phép đảng làm khác như đã nêu lên trong phần I.1 bên trên. Cho đến hôm nay vẫn chưa một lần ý chí “độc lập tự chủ” cũng như tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” được ĐCSVN đưa vào trong việc xác lập cho mình một tư duy riêng, một con đường riêng của Việt Nam mà Việt Nam cần và phải lựa chọn. Cho đến hôm nay, trong những trường hợp tốt đẹp nhất và trong sạch nhất (hay là trong sáng nhất?) “độc lập tự chủ” và “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà được đảng vận dụng, cũng vẫn chỉ là để thực hiện mọi thứ trong khung khổ cái gọi là “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” mà thôi. Ý thức hệ như thế hiển nhiên chỉ cho phép đảng nhìn được một khe đi nhất định trước mặt trong khi lấp mù hết cả cái thế giới chung quanh còn lại. Cái nhìn như vậy cùng với “ma tuý quyền lực đảng” cũng làm cho đảng đui điếc trước rất nhiều vấn đề của nội tình đất nước, vì thế tất cả hành động của đảng đối với đất nước chỉ là tiến hành “chăn dắt” đi liền với trấn áp những thứ trái chiều với ý thức hệ.

Cho đến khi các nước Liên Xô – Đông Âu xã hội chủ nghĩa sụp đổ cuối thập kỷ 1980s, cái gọi là “thế giới hai phe bốn mâu thuẫn” không còn tồn tại nữa. Đây là cơ hội vàng cho Việt Nam không phải bám theo ai, từ đó có thể tự giải thoát khỏi tư duy ý thức hệ cộng sản, xác lập con đường riêng của mình cho nước mình. Song khốn nỗi vì sợ mất chế độ xã hội chủ nghĩa của đảng, lãnh đạo đảng hồi ấy đã chọn hội nghị Thành Đô để đi với Trung Quốc, mặc dù trước khi đến hội nghị này Việt Nam đã được ăn 3 đòn chí tử của Trung Quốc: chiến tranh Campuchia, chiến tranh biên giới 17-02-1979 và việc 7 đảo và bãi đá của ta ở Trường Sa bị đánh chiếm 1988. Đảng tiếp tục rơi vào trạng thái không hiểu thế giới và không hiểu nước mình, ngày đêm chỉ còn lại duy nhất mỗi mối lo có thể mất quyền lực đảng và chế độ chính trị, coi mọi phản ứng đòi hỏi tự do dân chủ của nhân dân là diễn biến hoà bình, người yêu nước chống những sai trái của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền quốc gia bị đảng coi là thù địch (giữ đại cục).

Ý thức hệ của đảng đã hy sinh lợi ích quốc gia để bảo toàn chế độ của quyền lực đảng và đã tạo ra sự lệ thuộc Thành Đô đầy thảm hoạ cho đất nước. Chắc chắn nhân dân ta sẽ lên án nghiêm khắc.

Từ Thành Đô cho đến hôm nay, ý thức hệ của đảng tiếp tục làm thiệt hại nghiêm trọng nhiều lợi ích quốc gia khác. Trong những trường hợp này phải đặc biệt nhấn mạnh: Đàm phán biên giới trên bộ và dưới biển với Trung Quốc ở cái tư thế mơ hồ về ý thức hệ, lại bí mật với nhân dân, loại bỏ sự hậu thuẫn của nhân dân, thậm chí tự cho mình cái quyền quyết thay nhân dân trong vấn đề cực kỳ trọng đại liên quan đến sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, làm sao nước ta tránh được thua thiệt? Lịch sử cũng sẽ không tha thứ sai trái này.

Ý thức hệ của đảng cũng cướp đi mất khả năng cải cách chế độ chính trị để hoà bình thay đổi hiện trạng đất nước nhân dịp sửa đổi hiến pháp 2013. Thậm chí sự kiện giàn khoan HD 981 cũng chưa đủ nghiêm trọng để có thể lôi đảng ra khỏi cơn mê của ma tuý quyền lực đảng. Đại hội XII sắp tới đang được chuẩn bị theo xu hướng chịu sự chi phối tiếp tục của cơn mê ma tuý này.

Sự nô lệ như vậy của ý thức hệ – như đã nói trên – đã tước mất vũ khí vai trò lãnh đạo của “tù binh đảng”, hôm nay chỉ để lại cho đảng vỏn vẹn là một quyền lực chính trị lớn nhất trong nước đang cai trị quốc gia. Hôm nay, trước thềm đại hội XII, ý thức hệ này một lần nữa đặt đảng trước câu hỏi: Lựa chọn đất nước? Hay lựa chon sự tồn tại của quyền lực đảng?

Là nô lệ của ý thức hệ, đảng thực ra đang đánh mất chính mình, đảng không hiểu được và do đó không thể chia sẽ được nỗi lo đau đáu của dân tộc sau 40 năm đất nước độc lập thống nhất: Làm thế nào để ta là chính ta trên thế giới này? Là chính ta, chứ không phải là kẻ phải theo ai, đeo bám vào ai, càng không phải là kẻ cứ phải leo dây giữa cái thế giới đầy nhiễu nhương tai ác này!

Lo mất chế độ, đảng đang ngày càng đánh mất mình nhiều hơn, nguy cơ mất chế độ vì thế đang tăng theo, vì sự tha hoá của đảng đang làm đất nước suy yếu tiếp về mọi mặt – cứ so sánh đảng hôm nay với đảng cách đây 5 năm, 10 năm, 20 năm… sẽ rõ. Trừ những mặt tham nhũng tiêu cực, xem xét những giá trị chân chính một đảng chính trị phải có, chỉ có thể nhận xét: Đảng đang ngày càng mất nhiều hơn, càng trấn áp càng mất.

Trong 40 năm độc lập thống nhất đầu tiên, đảng nắm trọn vẹn mọi quyền hành tuyệt đối đối với quốc gia, làm tất cả mọi việc đảng muốn làm – nghĩa là đảng không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh vì bất kỳ lý do gì, song kết quả đất nước thu hoạch được tính đến ngày hôm nay là một giai đoạn phát triển thất bại như đã trình bầy trong các bài trước đây. Sự kiện giàn khoan HD 981 còn cho thấy đất nước bộc lộ quá nhiều yếu kém trong đối phó với âm mưu của Trung Quốc – nhất là tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược trong nội bộ lãnh đạo cấp cao nhất mà báo chí đã nêu lên.

Mặc dù ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia của nhân dân ta là bất khả kháng, mặc dù việc Trung Quốc phải rút giàn khoan HD 981 trước thời hạn họ định ra 30 ngày là do thất bại trước sự đấu tranh kiên trì của phía ta và sự lên án quyết liệt của cộng đồng quốc tế, song nhìn mọi mặt của sự việc, nhất là sự lúng túng nhất định của phía ta trong đấu tranh pháp lý với Trung Quốc, nhất là nhìn vào các phương tiện có trong tay Trung Quốc đang xử dụng để chống lại nước ta trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao.., cần thẳng thắn đánh giá nước ta như hiện trạng đang chưa thoát khỏi vòng kiềm toả của Trung Quốc.

Sát nách một nước lớn đang ngoi lên siêu cường thế giới đượm mầu sắc đại bá, 40 năm phát triển của nước ta vẫn chưa tạo ra được đủ ý chí và lực để thoát khỏi vòng kiềm toả của người láng giềng lớn đầy rắc rối này. Sự thật là đất nước đang đứng trước thách thức mất còn trầm trọng nhất kể từ sau 30-04-1975, vì các lẽ:

– Việt Nam trở thành đột phá khẩu Trung Quốc cần khuất phục trong giai đoạn mới của chiến lược bá chiếm Biển Đông;

– bối cảnh quốc tế có quá nhiều chuyện “đục nước béo cò” để Trung Quốc lợi dụng cho việc xúc tiến tham vọng này;

– toàn bộ thách thức này lại diễn ra trong hoàn cảnh nội tình Việt Nam từ nhiều năm nay đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện rất sâu sắc chưa từng có trong 40 nămđộc lập thống nhất.

Có thể đi tới nhận định, trong tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam như hiện nay đang là nước lệ thuộc nhiều nhất (hơn cả Bắc Triều Tiên), dễ bị can thiệp nhất, dễ bị làm chấn thương nhất, và đồng thời cũng là đối tượng Trung Quốc đang muốn và cần can thiệp sâu nhất vì rất nhiều lẽ.

Có thể nói đến mức, nếu Trung Quốc thành công trong sự can thiệp này vào Việt Nam, Trung Quốc hầu như sẽ không phải ra tay mà vẫn có thể đảo lộn được hoàn toàn mọi mối tương quan lực lượng trên Biển Đông và tại Đông Nam Á. Triển vọng này vô cùng cám dỗ đối với bá quyền Trung Quốc nhưng rất nguy hiểm cho nước ta, đang là kịch bản 1 của họ trong chính sách Việt Nam như tôi đã trình bày trong các bài viết trước (trong đó có Bài 2 “Hiểm hoạ đen”). Để Trung Quốc thành công trong âm mưu can thiệp như thế, Việt Nam sẽ trở thành tên lính xung kích rất được việc và là bàn đạp lý tưởng cho sự hoành hành của đại bá Trung Quốc, có thể mở ra một bước đột phá chiến lược làm phá sản “cái trục xoay CA-TBD” của Mỹ; hợp tác Trung – Nga đang tiếp sức thêm hy vọng cho một khả năng như thế. Tình hình này lại còn được bổ sung thêm bằng vấn đề chính Mỹ cũng đang đề nghị Trung Quốc cùng hợp tác chống nhà nước thánh chiến Hồi giáo (IS)…

Làm được kịch bản 1 trong bối cảnh quốc tế như thế, Trung Quốc có chỗ xả xú-páp hướng ra bên ngoài cho những áp lực đang đe doạ nổ tung nội trị Trung Quốc. Làm được như thế, giấc mộng Trung Hoa sẽ gần hiện thực thêm một bước. Chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn Trung Quốc đang được khuyến khích cao độ cho triển vọng rất cám dỗ này.

Còn nếu Trung Quốc không thành công trong sự can thiệp này?

Câu trả lời lộ rõ mồn một đập ngay vào mắt chúng ta. Đấy là lời răn đe “4 không được” của Trung Quốc, đưa ra một ngày trước khi Dương Khiết Trì đến Việt Nam 16-05-2014. Đấy là cái bãi đá bây giờ biến thành căn cứ quân sự đảo Gạc Ma giữa Biển Đông. Đấy là lời khuyên nhẹ nhàng trên báo mạng Hoàn Cầu, trên Nhân dân nhật báo và nhiều báo mạng khác của Trung Quốc ngay sau chuyến đi của uỷ viên Bộ chính trị Lê Hồng Anh: Việt Nam cần biết lượng sức mình, đừng ảo tưởng!… Đấy là tiếp tục những bước đi khác trên Biển Đông và ngay tại cửa biển Vịnh Bắc Bộ…

Những điều vừa trình bày trên một lần nữa cho thấy dứt khoát: Việt Nam không bao giờ có lý do để tự mình chủ động biến Trung Quốc thành kẻ thù, nhưng Trung Quốc với tính cách là CHNDTH từ 1950 đến nay liên tục nhìn Việt Nam là một đối tượng phải khuất phục cho mục tiêu chiến lược bá quyền của mình. Bây giờ lại càng như vậy. Không có một mối quan hệ anh em, mối quan hệ ý thức hệ, mối quan hệ hữu nghị giữ gìn đại cục nào giữa ĐCSVN và ĐCSTQ có thể mảy may thay đổi được thực tế không thiếu máu và nước mắt này trong quan hệ Việt – Trung kể từ khi có nước CHNDTH đến nay – đây là điều phải khẳng định dứt khoát.

Thời kỳ quan hệ Việt – Trung “núi liền núi, sông liền sông…”, thời kỳ “Trung Quốc là hậu phương lớn của kháng chiến chống Mỹ” là những chặng đường quan hệ hai nước phát triển tốt đẹp, nước ta không quên và không vô ơn. Là nước láng giềng, còn ai hơn nước ta mong muốn sự bền vững mãi mãi của mối quan hệ tốt đẹp này? Nhưng điều này hoàn toàn không phụ thuộc vào nước ta. Thực tế đã diễn ra là 2 thời kỳ đẹp đẽ này chỉ có thể tồn tại trong chừng mực lợi ích của Việt Nam phù hợp và phục vụ được lợi ích của Trung Quốc: làm phên dậu an ninh vòng ngoài cho Trung Quốc. Nói thẳng thắn, 2 thời kỳ tốt đẹp này nước ta cũng phải mua bằng máu của mình (Việt Phương). Còn bây giờ nước Việt Nam độc lập có chủ quyền không có chỗ đứng trong khát vọng bá quyền để vươn lên siêu cường của Trung Quốc. Còn bây giờ nước Việt Nam độc lập có chủ quyền trở thành đối tượng cần khuất phục để mở ra đột phá khẩu chiến lược cho tham vọng của siêu cường bá quyền này. Còn bây giờ, nỗi sợ mất chế độ đang tiếp sức cho sự uy hiếp của Trung Quốc.

Ngoại giao phải làm tất cả những việc ngoại giao phải làm, kể cả quan hệ ngoại giao giữa ĐCSVN và ĐCSTQ, để gìn giữ hoà bình, hữu nghị và hợp tác cho nước ta với tính cách là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nhưng ngoại giao gì cũng phải xuất phát từ thực tế không có một “quan hệ đại cục” nào, cũng không có mối quan hệ anh em hay ý thức hệ nào giữa ĐCSVN và ĐCSTQ có thể cứu vớt được Việt Nam thoát khỏi tham vọng bá quyền của Trung Quốc. Trong mối quan hệ giữa ăn thịt và bị ăn thịt này chỉ 2 có tình huống: “mạnh được yếu thua”, và “đuổi chẳng được, tha làm phúc!”  Chẳng lẽ những sự kiện thua thiệt và đẫm máu đối với nước ta trong quan hệ VNDCCH/CHXHCNVN – CHNDTH cho đến hôm nay không đủ sức thuyết phục chúng ta về thực tế khách quan lạnh lùng này hay sao?

Câu hỏi trăn trở của đất nước bao đời nay “Làm sao ta có thể là chính ta trên thế giới này?” hôm nay đòi hỏi phải trả lời trước tiên câu hỏi “Làm sao ta có thể là chính ta bên cạnh siêu cường bá quyền đang lên này?”

Không có câu trả lời đúng, không tìm ra được con đường thực hiện câu trả lời đúng, hệ quả sẽ là: Chẳng những ta không thể là ta trên thế giới này, mà sẽ còn phải sống tiếp trong vòng kiềm toả của Trung Quốc với tính cách trở thành một chư hầu mạt hạng trong thời đại ngày nay.

  1. Đã đến lúc Việt Nam phải học hỏi thế giới để lấy lại chính mình

Nhìn về nhiều phương diện của 40 năm độc lập thống nhất, không thể tránh né được kết luận nước ta tụt hậu quá xa so với thế giới bên ngoài, mọi thấp kém là do chính mình, hôm nay không còn có thể đổ lỗi cho quá khứ chiến tranh được nữa. Đặt vấn đề như vậy, tôi tìm cách so sánh nước ta với một số nước chung quanh có xuất phát điểm và hoàn cảnh phát triển rất gần với nước ta, đó là: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Thái Lan… Dưới đây là  một số điều tôi rút ra.

II.1. Nước ta khác gì so với chung quanh?

Qua so sánh, tôi thấy toát lên một điều mang tính quy luật: điều kiện địa lý tự nhiên trong bối cảnh vận động của địa kinh tế và địa chính trị khu vực và toàn cầu từng thời cùng với thể chế chính trị có được trong mỗi thời kỳ quyết định con đường đi và số phận của đất nước trong mỗi thời ấy. Đây là sự vận động khách quan của sự vật. Mọi trào lưu, xu thế hay “chủ nghĩa”… của từng thời hình thành trong quá trình phát triển của khu vực và thế giới có thể làm cho sự vận động khách quan này từng thời mang những mầu sắc nhất định. Song các nhân tố (1) địa lý tự nhiên, (2) tác động của địa kinh tế và địa chính trị của khu vực và thế giới, và (3) thể chế chính trị của quốc gia luôn luôn là 3 yếu tố khách quan quyết định nhất thân phận và con đường phát triển của đất nước trong từng thời kỳ. (4) Đương nhiên còn phải kể đến văn hoá như một chiều dày lịch sử cũng là một yếu tố lâu dài tác động đến sắc thái của phát triển của đất nước.

Từ nhận xét trên, tôi thấy nước nào vận dụng tốt 4 yếu tố cơ bản này để xử lý được những thách thức và phát huy được mọi cơ hội đến với nó đều thành công, và trong đó thể chế chính trị là yếu tố quyết định nhất. Tôi cũng đi tới được kết luận: Các nước đem ra so sánh họ đều vận dụng tốt hơn nước ta cả 4 yếu tố cơ bản này, vì không bị nô lệ ý thức hệ. Trong khi đó nước ta ngày càng rơi sâu vào tụt hậu, vì không dồn tâm sức vận dụng 4 yếu tố cơ bản nêu trên, mà lại kiên trì theo đuổi cái lá diêu bông chủ nghĩa xã hội và thực hiện một chế độ toàn trị để vận hành đất nước.

Suy nghĩ tiếp, cái gì làm cho những nước này vận dụng tốt được 4 yếu tố cơ bản ấy, tôi rút ra được kết luận, đó là họ luôn luôn bám sát nhịp sống của thời đại để thường xuyên phát huy trí tuệ, tinh thần dân tộc và dân chủ, nhằm giải phóng tiềm năng phát triển của đất nước họ – trước hết là tiềm năng con người. Đội ngũ tinh hoa của đất nước họ chỉ có thể hình thành và xuất hiện trong những điều kiện như vậy. Đồng thời quá trình vận động này cũng làm cho thể chế chính trị và xã hội một mặt (a) trực tiếp góp phần xây dựng nên (với nghĩa rèn luyện, chọn lọc, đào thải…) đội ngũ tinh hoa của đất nước, (b) mặt khác tạo ra một thể chế và văn hoá chỉ để cho đội ngũ tinh hoa nắm quyền quyết định vận mệnh đất nước. Qua thực tế này, tôi càng thấy quyền tự do của cá nhân và chất lượng dân chủ của thể chế chính trị giữ vai trò vô cùng quan trọng. Toàn bộ quá trình này phải dựa trên nền tảng của giáo dục.

So sánh tiếp, tôi cũng thấy: Thể chế chính trị của họ giác ngộ lợi ích quốc gia càng cao – nghĩa là họ hiểu đúng thế giới và chính bản thân nước họ, và càng ưu việt trong xử lý mọi cơ hội và thách thức, họ giành được thành quả càng lớn. So sánh Thái Lan với 3 nước còn lại, tôi cũng đi tới kết luận như vậy (vì Thái Lan thua kém 3 nước kia rất nhiều). So sánh cả 4 nước này với các nước công nghiệp phát triển trên thế giới, tôi cũng đi tới nhận thức như thế [4]. Trong quá trình toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, ưu tiên chiến lược số một của hầu hết các nước này là giải phóng để phát huy nguồn lực con người làm nên sức mạnh quốc gia, để từ đó có thực lực luôn luôn cải thiện vị thế quốc tế của họ. Đây thật sự là một hiện tượng mang tính thời đại, chứ không phải đi lên chủ nghĩa xã hội là xu thế tất yếu như vẫn được rao giảng trong toàn bộ hệ thống chính trị của nước ta.

Trên đây là những điều khái quát nhất rút ra được từ công việc so sánh, và tôi cố gắng trình bầy thật giản lược để thích hợp với khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này. Đến đây có thể kết luận:

–      Họ, các nước đem ra so sánh, có cả thế giới là không gian sống và tư duy, có một thể chế chính trị luôn luôn thúc đẩy đất nước vươn ra vùng vẫy trong cái không gian thế giới này.

–      Ta có vòm trời ý thức hệ và ranh giới rõ ràng của chế độ toàn trị quy định cái không gian sống và tư duy của đất nước – với cái tên gọi là CNXH/ĐHXHCN, luôn luôn lo sợ cái không gian rộng lớn của thế giới diễn biến hoà bình mất tiêu cái không gian CNXH/ĐHXHCN của ta.

Như đã nhiều lần trình bày trong các bài trước và bài này, càng “ươm” mãi đất nước trong cái lồng CNXH của cái lá diêu bông như thế, đất nước ta càng phải trả giá, với kết cục là thực trạng của đất nước như hôm nay. Sự thật đảng đang phải đối mặt là: Làm tiếp như thế, đảng đang ngày càng “mất”, hiện nay đảng đang ngày càng đến gần nguy cơ mất trắng, với nhiều tai hoạ khôn lường cho đất nước – vì ở nước ta có lẽ không thể có kịch bản đảng sụp đổ trong hoà bình như ở các nước LXĐÂ XHCN trước đây.

–      Tại sao lại như vậy?

–      Chỉ tại một nguyên nhân gốc duy nhất thôi: Những mâu thuẫn giữa cai trị và bị cai trị trong chế độ chăn dắt hiện nay đang ngày càng gia tăng tính đối kháng nguy hiểm.

Đặc điểm cơ bản của thể chế chính trị ở nước ta hiện nay là “quyền lực thay cho năng lực” như Trần Xuân Bách đã thẳng thắn nhận định trước Bộ Chính trị. Vì thế tha hoá và tham nhũng là vô phương cứu chữa, càng thúc đẩy đảng làm chức năng duy nhất là cai trị, vứt bỏ hẳn vai trò lãnh đạo. Xem xét tất cả các chủ trương chính sách đã thực hiện, các việc đảng đã làm – từ việc Bộ Chính trị mới là người nắm quyền lực tối cao và vận mệnh của đất nước nhưng không phải do nhân dân bầu lên, đến việc Quốc hội “đảng cứ dân bầu” chỉ là một cơ quan thực thi quyền lực đảng – trước hết là của Bộ Chính trị hoặc nhóm nào đó trong Bộ Chính trị…, sự thật đập vào mắt mọi người là: “Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội” như vậy trên thực tế chỉ có nghĩa là Tổ quốc trở thành của riêng của đảng. Cương lĩnh ghi đảng chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ lợi ích của nhân dân – nhưng nó phải là ở trong khung khổ của chế độ chăn dắt…;  vân vân… và vân vân… Phương tiện khả dụng để đảng thực hiện những quan điểm danh và thực đối nghịch nhau như nước với lửa như thế chỉ còn lại là bạo lực và sự dối trá. Do đó sự tích tụ tính đối kháng ngày càng quyết liệt giữa đảng và nhân dân là tất yếu. Toàn đảng, trước hết là Bộ Chính trị, cần nhìn thẳng vào sự thật này.

II.2. Phải đổi mới ĐCSVN để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc

Cần đặc biệt lưu ý, cùng với sự tha hoá của quyền lực, đảng đang ngày càng tha hoá nghiêm trọng về mặt tư duy, gây nhiễm độc tư duy rất trầm trọng cho cả hệ thống chính trị và cho toàn xã hội. Về nhiều mặt, có lẽ sự tha hoá về mặt tư duy còn nguy hiểm hơn và khó khắc phục hơn sự tha hoá của quyền lực bạo lực. Về lâu dài, để đổi mới đất nước, sự nhiễm độc tư duy đảng mang lại cho đất nước có lẽ mới là kẻ thù nguy hiểm nhất của đất nước trong quá trình canh tân đất nước. Xin ngẫm nghĩ kỹ điều này.

Tại đây chỉ xin lẩy ra đôi điều để dẫn chứng.

–      Vì cột chặt mình vào tư duy ý thức hệ, nên đảng ngày càng “mất” như đã nói đi nói lại nhiều lần bên trên; song nếu đảng vứt bỏ nó thì đảng không có lý do để tồn tại như đảng đang là nữa. Thực tế này đang giết đảng dần dần. Trong khi đó đảng phải đẩy mạnh chính sách ngu dân để giữ ánh hào quang của chế độ, làm cho người dân không thấy được cái giá phải trả quá đắt cho những gì đã đạt được trong 40 năm qua, người dân vừa bị đầu độc bởi nhiều thứ hão huyền và ngộ nhận nhiều thứ, vừa không được trang bị hiểu biết và ý chí phải có để phấn đấu đưa đất nước thoát nạn tụt hậu…

–      Đảng nói dối nhiều quá theo cách “nói djậy mà không phải djậy”, khiến cho cả hệ thống chính trị và con người của nó cũng phải nói dối theo để tồn tại và để có thể sống được; trong xã hội ngày càng quá nhiều trường hợp dân cũng phải nói dối theo để tồn tại và để sống. Cái kiểu buộc phải sống hai mặt như thế để có thể tồn tại và sống được đang tàn phá tan hoang đất nước về nhiều mặt.

–      Vì chỉ chấp nhận đấu tranh giai cấp và phân chia đất nước ra thành nhân dân và thù địch trong đấu tranh giai cấp, nên đảng không có hay đã đánh mất khả năng đau nỗi đau của dân tộc – qua những sự kiện đầy máu và nước mắt như hiện tượng di cư vào Nam 1954, sự kiện nhân văn giai phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản sau 30-04-1975, cải tạo “nguỵ quân nguỵ quyền”, nạn “thuyền nhân” vô cùng đau lòng… Đặc biệt là đã 40 năm rồi, nhưng đến hôm nay đảng vẫn không dám nhìn nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ có 5 – 6 cuộc chiến tranh bên trong nó, và đau khổ nhất cho dân tộc ta là trong đó có cuộc nội chiến rất đẫm máu; thậm chí hôm nay ai dám nói đến hoà hợp hoà giải dân tộc theo tinh thần này, ngay lập tức sẽ bị quy  kết là phản động. Cho đến ngày hôm nay, đảng vẫn không đủ trí tuệ và ý chí để nhận thức được là lịch sử nội chiến của đất nước đã và đang bị đối xử như thế, đất nước này đã, đang phải tiếp tục trả giá rất đắt trong quá khứ, cho hiện tại và tương lai [5]. Không biết đau nỗi đau của dân tộc như thế, đảng đang rơi vào tình trạng vô cảm trước biết bao nhiêu nỗi đau khác của dân tộc, trong đó có nỗi đau nước độc lập mà vẫn phải là một dạng chư hầu của Trung Quốc, nỗi đau quằn quại ê chề của nhân dân trước tệ nạn trấn áp và tham nhũng, nỗi nhục của người dân của đất nước đi làm thuê và của đất nước cho thuê… Tâm lý bi quan và bất mãn rất nặng nề trong dân.

–      Không biết đau nỗi đau của dân tộc vì 40 năm rồi vẫn chưa tạo lập được sự hoà giải đáng khát khao để toàn dân tộc chỉ một ý chí và một con đường đưa đất nước đi lên phía trước, đảng đang tăng thêm nguy cơ làm cho dân tộc tiếp tục bị chia rẽ trước những thách thức hiểm nghèo từ Trung Quốc và những mối nguy mới của cục diện thế giới hôm nay. Xin đừng quên, dân tộc bị chia rẽ là một trong những nguyên nhân hàng đầu tạo ra cuộc nội chiến đẫm máu trong lòng cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nguy cơ này hôm nay còn nguyên vẹn, có thể nhìn vào Ukraina hôm nay để nhận định như vậy. Cần nhìn thẳng vào sự thật: 40 năm độc lập thống nhất rồi, nhưng vẫn chưa xây dựng được (hay chưa xây dựng được bao nhiêu) đoàn kết dân tộc về trí tuệ, ý chí, con đường phát triển đất nước và chỗ đứng nào đất nước nhất thiết phải giành lấy trong thế giới ngày nay! Lợi ích quốc gia làm sao kham nổi sự chậm trễ này trong sự uy hiếp hàng ngày của Trung Quốc? Nhìn vào lịch sử đất nước, tôi nghi rằng chưa bao giờ tinh thân dân tộc của nước ta thấp và thậm chí bị vùi dập như hiện nay; duy nhất ĐCSVN phải chịu trách nhiệm về thực tế này. Đừng cứ vin vào đã đánh thắng nhiều kẻ thù to trong quá khứ mà nhắm mắt trước thực tế: đảng đang làm cho tinh thần dân tộc bị tha hoá nghiêm trọng!

–      Giữ “đại cục” trong quan hệ với Trung Quốc như đang làm, đảng buộc phải trấn áp sự phản kháng của nhân dân chống những hành động Trung Quốc xâm phạm chủ quyền đất nước, bưng bít dân sự thật trong quan hệ Việt – Trung, giấu dân những thủ đoạn đen tối của Trung Quốc, áp đặt dân cũng phải giữ “đại cục” – nghĩa là dân cũng phải tự trói mình… Cách tiếp cận này một mặt làm tê liệt khả năng cảnh giác và sức chiến đấu của nhân dân, mặt khác kích thích yếu tố phản ứng bầy đàn rất nguy hiểm và rất dễ xảy ra với bàn tay can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc – sự kiện chỉ trong 2 ngày 13 và 14-05-2014 khoảng 800 xí nghiệp bị bạo loạn cướp phá là bài học đau đớn. Giữ “đại cục” như thế trên thực tế là khuyến khích một cách rất nguy hiểm tâm lý hữu khuynh đầu hàng không phải là không có trong lòng đất nước, vứt bỏ khả năng lấy nhân dân làm hậu thuẫn bất khả xâm phạm cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

–      Vân… vân…

Sửa tình trạng đảng đang làm nhiễm độc đất nước nêu trên, trước hết là sửa những điều chính bản thân đảng đang bị nhiễm độc. Đó chính là đòi hỏi ĐCSVN phải tự đổi mới chính mình để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc. Biết đau những nỗi đau của dân tộc và biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, đảng có thể làm được. Ở nước ta hôm nay, đảng không phải bắt đầu nhiệm vụ này từ con số không!

III. Bàn về đại hội XII của ĐCSVN

III.1. Đại hội XII đứng trước thách thức nghiêm trọng

Trước hết nói về đảng.

Bốn mươi  năm áp dụng tư duy vay mượn CNML (bản sao) cho thấy nó hoàn toàn duy tâm, CNXH muốn xây dựng không xác định được, gặt hái được trong quá trình vận dụng dang dở thứ sao chép này thực chất chỉ là một dạng của chủ nghĩa tư bản kém phát triển, có nhiều nét hoang dã và phong kiến tiểu nông, vận hành dưới chế độ toàn trị độc đảng.

Sự thất bại của xây dựng CNXH ở nước ta là tất yếu, bởi các lẽ: Đấy là một chiến lược phát triển duy ý chí, không đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức đặt ra cho đất nước do thực tế khách quan của những điều kiện địa lý tự nhiên, địa kinh tế và địa chính trị toàn cầu và khu vực trong thế giới chúng ta đang sống đặt ra cho nước ta, nên đã vấp phải sai lầm chiến lược trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, nội trị và ngoại giao. Hệ quả đau lòng là hiện nay Việt Nam là một nước yếu trong khu vực, thậm chí rất yếu so với các thách thức phải đối mặt và so với vị thế của đất nước; càng phát triển càng lệ thuộc. Chính sách đối ngoại leo dây đang cho thấy đất nước vừa èo uột, vừa không có đồng minh hay liên minh nào vững chắc. Sự thật là đất nước đang mất phương hướng và không tự khẳng định được mình. Thất bại nghiêm trọng nhất là đến nay vẫn chưa xác lập được một thế đứng phải có của một quốc gia độc lập có chủ quyền bên cạnh một Trung Quốc khao khát bá quyền, trong khi đó ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc và bị uy hiếp nặng nề. Toàn bộ những thất bại này là tất yếu, vì trí tuệ và nghị lực sáng tạo của đất nước bị bóp chết, cả nước phải sống trong chế độ chăn dắt.

Có thể kết luận: ĐCSVN đã thất bại, nếu không muốn nói là đảng thực sự bất cập so với trách nhiệm lịch sử nó tự giành lấy cho mình là đảng duy nhất lãnh đạo và nắm quyền dẫn dắt nhân dân của nước Việt Nam độc lập trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do bám giữ quyền lực và phản ứng đề kháng với sự thay đổi bắt buộc mà đất nước và đảng phải chấp nhận, ĐCSVN hiện nay trên thực tế là trở lực lớn nhất đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, thậm chí không loại trừ nguy cơ trở thành đối kháng lợi ích quốc gia – điều đã từng xảy ra ở rất nhiều quốc gia có chế độ toàn trị trong thế giới ngày nay.

Nói về thực trạng và đòi hỏi của đất nước.

Nước ta hiện nay rơi vào cuộc khủng hoảng toàn diện nặng nề, nói đơn giản là đất nước bị quá trình xây dựng CNXH làm hỏng về nhiều mặt với nhiều hậu quả lâu dài, khó khắc phục. Nổi lên là những vấn đề:

–      Các khả năng chuyển sang một giai đoạn phát triển mới để đưa đất nước đi tiếp rất hạn chế trên cả 4 phương diện trí tuệ, ý chí, tinh thần thực thi luật pháp và cơ sở vật chất/kỹ thuật.

–      Trong khi đó dân mất tin tưởng vào đảng và chế độ, lòng người phân tán, mất phương hướng. Rất đáng lo ngại là hiện tượng mất phương hướng về văn hoá ngày càng trầm trọng – nghĩa là đi ngược lại đòi hỏi càng hội nhập quốc tế lẽ ra càng phải tự khẳng đinh mình mạnh mẽ… Trình độ dân trí thấp so với đòi hỏi của cải cách thể chế chính trị, mà nguyên nhân chính là hậu quả của chính sách ngu dân, nền giáo dục bất cập, nhiều thang giá trị bị chế độ làm băng hoại trầm trọng và để lại những di sản nặng nề – (trong đó có nạn nói dối, làm ăn dối…)

–      Bộ máy cai trị quốc gia quan liêu ăn bám nặng nề và ngày nay trở thành dinh luỹ ngoan cố chống lại cải cách; vận hành trong chế độ toàn trị bộ máy này còn là dinh luỹ của tham nhũng và tội ác (các hoạt động kinh tế mang tính chất mafia, các nhóm lợi ích và sự lũng đoạn của chúng, những hành động khủng bố tinh thần của báo chí và đội ngũ dư luận viên, những hành động trấn áp bằng bạo lực, nỗi sợ nhìn vào dân chỉ thấy quá nhiều kẻ thù và diễn biến hoà bình, v.v.)

–      Khủng hoảng cơ cấu kinh tế đang gây ra những ách tắc trầm trọng; hầu như trong suốt quá trình 40 năm qua chưa tạo ra được sự chuẩn bị cần thiết về chất lượng nguồn nhân lực, thể chế quản trị quốc gia, kết cấu hạ tầng vật chất và kỹ thuật cần thiết cho đất nước đi vào một thời kỳ phát triển mới. Vì những lẽ này và vì cơ cấu kinh tế quá lạc hậu, khả năng trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 vừa là không hiện thực, vừa không ai đến giờ phút này có thể nói được đất nước nên phấn đấu trở thành một nước công nghiệp như thế nào trên tất cả các phương diện công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong ASEAN và trong nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá… (trên thực tế đảng cứ nói đại là trở thành một nước công nghiệp cơ bản theo hướng hiện đại vào năm 2020, nhưng chưa một lần nói rõ ra đó là những cái gì…).

–      …

–      …

Có thể nói: Không thắng được bộ máy quan liêu ăn bám của mình, không trên cơ sở nâng cao dân trí giải phóng dân, không loại bỏ nguy cơ được xẩy ra đổ vỡ mới trong kinh tế, ĐCSVN hoàn toàn không có khả năng tiến hành cải cách thể chế chính trị đang trở thành đòi hỏi sống còn và không thể trì hoãn được nữa của đất nước. Trong khi đó sự tha hoá của bản thân hệ thống chính trị và sự can thiệp của quyền lực mềm Trung Quốc luôn luôn có khả năng gây ra những tình huống đặc biệt nhạy cảm và nóng bỏng – ví dụ như sự kiện khoảng 800 xí nghiệp bị cướp phá trong bạo loạn, hoặc rất nhạy cảm nhưng ở trạng thái tiềm tàng như bô-xít Tây Nguyên, cho thuê rừng, khu công nghiệp Vũng Áng… Chưa nói đến một sơ xuất trong trấn áp có thể gây ra bạo loạn không dập tắt được, một phản ứng của dân chống lại bất công có thể bùng lên cả đám cháy lớn không kiểm soát được… Xảy một ly, đi một dặm! Chẳng lẽ tất cả chỉ còn lại một quốc sách: Trấn áp? Giập tắt? Bất cần đạo lý?  – Tình hình mọi mặt trong / ngoài phải nói là rất nhạy cảm, nhưng để tồn tại chỉ bằng cách như thế khác gì tự sát, và nếu như thế không đốt cháy luôn đất nước thì cũng có nghĩa giam cầm đất nước hà khắc hơn nữa, quỵ luỵ nước ngoài hơn nữa? Sảy tay để sơ xuất cũng có thể dẫn đến cảnh ngộ như thế… Tất cả phải mở to mắt nhìn thẳng vào tình hình nhạy cảm này đang đe doạ đất nước.

Tuy nhiên vẫn phải nhấn mạnh, tình hình dù khó khăn và nhậy cảm đến thế nào chăng nữa, nếu không thông qua cải cách thể chế chính trị khai phá lối thoát và con đường đi lên, thì chỉ còn cách ngồi chờ đổ vỡ lúc nào đó ập đến.

Và như thế đổ vỡ sẽ đến có thể không xa lắm đâu, ví dụ:

–      Nền kinh tế như hiện nay, không có cách gì nuôi nổi và nuôi mãi được một hệ thống chính trị quan liêu ăn bám ngày càng phình lên, bao gồm hệ thống đảng, hệ thống nhà nước, hệ thống mặt trận – nghĩa là 3 thứ chính quyền trong một chính quyền chỉ để làm công việc của một chính quyền; trong khi đó toàn bộ hệ thống chính trị này hàng ngày trực tiếp phát sinh vấn đề mới tích tụ những đối kháng mới, đồng thời đang kìm hãm (và trên thực tế là loại bỏ) khả năng cải cách mở lối thoát cho đất nước. Còn nghiêm trọng hơn thế, như đã nói trên, hệ thống quan liêu ăn bám này có chân rết từ cấp cơ sở lên đến cấp cao nhất, là dinh luỹ của tham nhũng và tội ác; và xin đừng bao giờ quên tham nhũng/mafia không thừa nhận khái niệm biên giới quốc gia.

–      Kinh tế quốc gia ngày nay đặt ra những vấn đề chỉ có thể giải quyết được từ cải cách thể chế, thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận đòi hỏi này. Chỉ riêng một vấn đề cơ cấu lại nền kinh tế hiện tại như thế nào để khắc phục sự lệ thuộc vào Trung Quốc cho thấy không thể trì hoãn cải cách thể chế chính trị được nữa. Sự kiện giàn khoan HD 981 làm kinh tế nước ta thiệt khoảng -1% GDP. Hàng loạt công trình kinh tế do Trung Quốc xây dựng đang và sẽ tiếp tục phát sinh tiếp nhiều vấn đề nghiêm trọng vì chất lượng sản phẩm và công nghệ tồi, giải quyết gánh nặng này như thế nào? Đường sắt trên cao ở Hà Nội do Trung Quốc trúng thầu với giá khoảng 70 triệu USD / 1 km, đắt gấp đôi so với trên thế giới, con đường này chỉ dài 13 km nhưng cần 600 nhân viên vận hành và phục vụ, làm kinh tế theo kiểu công trình càng “to” và càng nhiều công trình như thế càng “tốt” đất nước nào, dân nào gánh nổi? Khi cần gây sức ép chống Việt Nam, chỉ bằng một quyết định cấm vận hay phong toả nào đó, Trung Quốc có thể dễ dàng làm cho kinh tế nước ta thiệt hại -5 –  -10% GDP, có khác gì một cái thòng lọng treo sẵn lên cổ đất nước?… Trong khi đó nước ta năm này sang năm khác từ vài thập kỷ nay làm ra không đủ chi và nợ ngày một chồng chất, không cải cách thể chế chính trị không có lối ra. Tham nhũng và lãng phí rất lớn trong cả nước nhưng nền quốc phòng vẫn yếu kém… Giới nghiên cứu trên thế giới có tin Trung Quốc sẵn sàng cho vay để nuôi tiếp một nền kinh tế Việt Nam như thế với lý do không cần giấu giếm! Trên thực tế Trung Quốc đã và đang dùng tiền để “mua” như vậy đối với nhiều nước.

–      Sự kiện giàn khoan HD 981 tuy Trung Quốc đã tạm thất bại, nhưng cho thấy phía ta rất bị động, lúng túng, trở tay không kịp… Nhưng nghiêm trọng nhất là sự kiện này đã làm suy yếu sự thống nhất trong nội bộ lãnh đạo, tăng thêm những yếu tố bất ngờ nguy hiểm khác. Điều đặc biệt nghiêm trọng là cục diện quốc tế có nhiều sự kiện đột biến tác động trực tiếp đến khu vực ĐNÁ và an ninh của nước ta, Trung Quốc đang đục nước béo cò. Chậm một ngày nước ta không có cái dĩ bất biến ở đây là một quốc gia có bản lĩnh của một thể chế chính trị vững vàng của toàn dân tộc để ứng vạn biến  với mọi thách thức dù từ đâu đến và những tình hình đột biến trên thế giới, vận mệnh đất nước bị đe doạ thêm một ngày, càng để chậm càng nguy hiểm. Người xưa có câu: Chậm một bước chân, hận nghìn thu!..

–      …

–      …

Có thể nói, sự thật là đất nước đang ở trong tình trạng lực bất tòng tâm so với những việc phải làm, nhưng khoanh tay chịu chết không tiến hành cải cách thể chế chính trị chỉ có thể dẫn đến cái chết bi thảm một cách chắc chắn mà thôi. Trong khi đó cải cách thể chế chính trị tuy là cửa tử đối với thể chế toàn trị, nhưng lại là cửa sống đối với đất nước và đối với chính bản thân đảng này. Cuộc sống nghiêm khắc đang đặt ra vấn đề phải đi qua cửa tử này để mở cửa cho con đường sống. Sát sườn nhất là muốn sống chứ không phải là nô lệ bên cạnh Trung Quốc, thì nhất quyết phải đi qua cửa tử này! Có đi qua cửa tử này mới có thể có hữu nghị với Trung Quốc. Và cũng thật oái oăm nhưng hoàn toàn có lý: Có mở được cửa tử này để vươn lên đi ra với cả thế giới thì mới sống được như thế bên cạnh Trung Quốc, và sống được như thế bên cạnh Trung Quốc thì cũng đủ bản lĩnh đi được với cả thế giới. Còn hơn thế, muốn Việt Nam không chỉ đơn thuần một chiều là thị trường tiêu thụ sản phẩm Trung Quốc, mà thị trường bao la Trung Quốc còn phải là không gian vùng vẫy lý tưởng cho sản phẩm chất lượng cao của Việt Nam, nhất thiết phải bắt đầu từ cuộc cải cách thể chế chính trị đã chín muồi ở nước ta. Không như thế không sống được! Không có cách nào khác!

Nói cho hết lẽ, thất bại của ĐCSVN 40 năm qua là lý do hoàn toàn chính đáng loại bỏ vai trò lãnh đạo của nó đối với đất nước, lẽ công bằng thì phải như thế. Trong một vài bài viết đã lâu tôi cũng đôi lần thừa nhận chế độ này cùng với đảng của nó đáng sụp đổ ba bốn lần rồi!.. Nhưng cuộc sống của một quốc gia không đơn giản như thay một bộ phận cơ khí hỏng trong một cỗ máy nào đó. ĐCSVN bây giờ là lực lượng chính trị lớn nhất trong nước, thúc đẩy lực lượng chính trị lớn nhất này trở thành lực đẩy của cải cách là tối ưu với toàn dân tộc trong đó có đảng này, khả năng này đang có thể trở thành hiện thực. Nhưng quan trọng hơn thế nhiều, ĐCSVN có trách nhiệm ràng buộc đã cam kết trên lá cờ của đảng đối với dân tộc và các thế hệ đã sáng lập ra đảng này là phải đứng ra tiến hành cuộc cải cách thể chế chính trị này – theo phương thức từ trên xuống và từ trong đảng ra, để sự nghiệp cải cách này chỉ có một khả năng duy nhất: Mở ra con đường sống cho dân tộc và cho đảng này.

Cũng nói cho hết lẽ, oán hận và nỗi nghi ngờ chính đáng trong quá khứ đau khổ đang cầu mong xoá sổ hay đập tan đảng này.

Kẻ thù của một nước Việt Nam dân chủ, giầu mạnh, văn minh cũng muốn đất nước này một lần nữa nồi da xáo thịt và đang kích động nổi loạn đập tan đảng này. Đập tan được hay không đập tan được không thành vấn đề, miễn là gây ra được một lần nữa trên đất nước này cuộc bể dâu mới nồi da xáo thịt, cốt để kéo đất nước này tụt hậu thêm để chúng có lợi thêm, nhất là để chúng có thêm khả năng chi phối Việt Nam, vì để cho cái nước Việt Nam này mạnh lên thì phiền lắm!..

Chỉ có một con đường: Nhất quyết phải thông qua hoà giải đoàn kết dân tộc để hoá giải vĩnh viễn oán hận và nghi ngờ chính đáng, chấm dứt hẳn tình trạng ân oán luân hồi nhau khoét sâu thêm mãi vết thương dân tộc. Còn đối với kẻ thủ của một nước Việt Nam dân chủ, giầu mạnh, văn minh, một khi chúng ta thấy cần phải giành lấy cái gì cho đất nước mình, chúng ta cũng xác định được đúng đắn cách đối xử dành cho họ.

Xin mọi người tỉnh táo nhìn sự vật bằng con mắt thật của chính mình: Khả năng đập tan ĐCSVN là không có, cũng chưa thấy xảy ra ở đâu trong các nước LXĐÂ cũ; đến nay chỉ xảy ra tình huống những ĐCS ở các nước này tự sụp đổ. Song như đã phân tích nhiều lần, nếu tình huống đi tới kịch bản ĐCSVN sụp đổ, ở nước ta vẫn sẽ là một cuộc bể dâu mới và để ngỏ không ít những khả năng phát triển rối loạn khác nhau tiếp theo, với những cái giá đất nước phải trả rất đắt. Dù có một cuộc bể dâu mới như thế, trước sau đất nước vẫn không sao tránh được phải trải qua tiếp một quá trình cải cách với đúng nghĩa. Trong tình hình xảy ra kịch bản sụp đổ như thế, bàn tay quyền lực mềm Trung Quốc chắc chắn sẽ tận dụng mọi khả năng để chiếm thế thượng phong ở nước ta. [Phải tỉnh táo đánh giá rằng dù nội tình nước ta xảy ra kịch bản nào, Trung Quốc vẫn có nhiều khả năng “chơi” ta được, làm nước ta khốn khó, kể cả kịch bản nước ta tiến hành thành công cải cách. Lúc thức cũng như lúc ngủ, chúng ta không bao giờ được quên điều này!]

Còn một lẽ nữa cũng phải nói lên: Đến nay trên thế giới chưa có một đảng cộng sản cầm quyền nào tự thay đổi để cứu nước và cứu chính bản thân họ. ĐCS chỉ có cách phải đập tan! – như Yeltsin đã có lần nói toạc ra. ĐCSVN làm sao có thể là một ngoại lệ được?

Nếu thế, những đảng viên ĐCSVN yêu nước hãy tạo ra một ngoại lệ để cứu nước và cứu chính mình, nghĩa là đứng lên đổi mới đảng này để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, với mục tiêu: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, xây dựng nhà nước của thể chế pháp quyền dân chủ, thực hiện các quyền làm chủ đất nước của nhân dân, lấy giải phóng phát huy con người làm nên sức mạnh quốc gia, vươn lên đi với cả thế giới để có thể đi được với Trung Quốc, tất cả để ta được thật sự là chính ta trên cái thế giới này. Giác ngộ được như vậy, đảng viên ĐCSVN hôm nay hoàn toàn có thể làm ra một ngoại lệ phải làm này cho đảng của mình. Giác ngộ bao giờ cũng là sức mạnh đầu tiên và bất khả kháng.

III.2. Làm gì và như thế nào?

Gần đây, trong quá trình chuẩn bị đại hội XII, có lần uỷ viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh yêu cầu Hội đồng lý luận Trung ương nghiên cứu vấn đề xây dựng ĐCSVN là đảng cầm quyền trong chế độ một đảng. Trong khi đó 40 năm qua cho thấy ĐCSVN với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất chỉ xây đựng nên được chế độ toàn trị như đất nước đang có hôm nay, và ĐCSVN tha hoá thành đảng cai trị; khái niệm “đảng cầm quyền” chỉ còn lại là cái nhãn mác sai gắn vào ĐCSVN mà thôi. Không một phép tiên nào hay đạo đức cách mạng sắt thép nào có thể giữ cho ĐCSVN thoát khỏi sự tha hoá này. Bốn mươi năm là một thực tế quá đủ để khẳng định chế độ một đảng cầm quyền tất yếu phát triển thành chế độ đảng trị. Lịch sử cũng cho thấy tại tất cả các nước do đảng công sản độc quyền nắm quyền đều như vậy.

Như thế, ĐCSVN muốn tự đổi mới mình để phấn đấu trở thành đảng cầm quyền với tính cách là đảng của dân tộc, chỉ có một con đường duy nhất là đảng phải tự đổi mới mình và đồng thời cùng với cả nước xây dựng thể chế chính trị đa nguyên của nhà nước pháp quyền dân chủ. Trên cơ sở đánh giá khủng hoảng xảy ra ở các nước LXĐÂ cuối những năm 1980, Trần Xuân Bách cho rằng xây dựng thể chế chính trị đa nguyên là tất yếu để thay đổi tình hình nước ta, vì lý do này ông bị thất sủng.

Vậy làm thế nào? Mấy chục năm nay ở nước ta khái niệm đa nguyên hoàn toàn bị cấm kỵ như một tư tưởng thù địch cực kỳ phản động chống lại chế độ. Nhân dân cả nước hoàn toàn chưa được chuẩn bị gì cho bước phát triển mới này. Đa nguyên theo kiểu bầy đàn sẽ vô cùng nguy hiểm, trong khi đó biết bao nhiêu bài học tầy liếp của hỗn loạn do đa nguyên tại không ít các quốc gia làm các cuộc cách mạng mang tên các “mùa hoa” ở Bắc Phi và một số nơi khác ở châu Âu.

Tôi không đủ thông tin và trí tuệ để đưa ra một kiến nghị cụ thể nên xây dựng một thể chế chính trị đa nguyên cho nhà nước pháp quyền dân chủ trong tình hình hiện nay ở nước ta như thế nào, nhưng tôi hoàn toàn tin rằng đây là một đòi hỏi tất yếu của đất nước, ĐCSVN hiện nay hoàn toàn có đủ mọi điều kiện huy động trí tuệ và nguồn lực của cả nước để xây dựng một chiến lược cải cách như thế.

Trong thâm tâm, tôi ước ao làm cách nào nước ta có được một chế độ chính trị hai đảng như ở Mỹ, hoặc bốn đảng như ở Đức, có luật pháp và những quy định để một thể chế như vậy hoạt động có hiệu quả, bền vững, phục vụ đất nước tối đa theo tinh thần dân chủ và qua đó thực hiện tốt nhất quyền làm chủ đất nước của nhân dân; phòng ngừa bằng hiến pháp không để xảy ra nguy cơ đa nguyên theo kiểu bầy đàn và hỗn loạn, nhưng đồng thời cũng ngăn chặn được khả năng thao túng đến từ đảng phái hay các thế lực kinh tế, luôn luôn bảo đảm được lợi ích quốc gia trên hết. Xã hội dân sự phải được phát triển như thế nào, dân trí phải tiếp tục được nâng cao như thế nào, kinh tế thị trường phải được hoàn thiện tiếp, để hình thành được hệ thống cột trụ chân kiềng “kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội dân sự” làm bệ đỡ cho sự phát triển của đất nước. Hoàn toàn có thể thiết kế và thực thi một con đường phát triển như thế cho nước ta trong thời đại ngày nay.

Nhìn lại chính nước ta, một thời chúng ta đã có đảng Lao Động Việt Nam, Đảng Xã hội, Đảng Dân Chủ – có thể nói đấy là thành quả quan trọng thời Hồ Chí Minh. Trong tình hình và nhiệm vụ mới hiện nay của đất nước, rất nên nghiên cứu phục hồi lại mô hình này với nội dung mới mà thể chế chính trị đa nguyên của nhà nước pháp quyền dân chủ đòi hỏi như đã nói trên. Nói dân dã, đấy phải là một thể chế chính trị đa nguyên của nhà nước pháp quyền dân chủ với đúng nghĩa, không phải là một thứ đa nguyên kiểu “chậu cảnh”.

Rất mong trí tuệ cả nước và trong đảng vắt óc thiết kế lộ trình, các bước đi tối ưu cho đất nước tiến tới được cái đích này. Đại hội XII có sứ mệnh phải giải quyết thành công nhiệm vụ lịch sử này.

III.3. Về tiến hành đại hội XII

Một lần nữa tôi đề nghị thay đổi cách tiến hành đại hội theo lối đường mòn như đang làm, vì nó dẫn tiếp đến bế tắc và chỉ làm sâu sắc thêm tình hình khủng hoảng toàn diện hiện nay của đất nước. Rất nguy hiểm là làm đại hội theo đường mòn như vậy, đại hội nào cũng chỉ tập trung giải quyết vấn đề số 1 là “Ai ở? Ai đi?”, đảng cũng trước hết là chỉ để phục vụ vấn đề “Ai ở? Ai đi?”. Quốc gia đại sự vẫn chỉ là thứ yếu, vì nó đã là “của riêng” của đảng rồi nên không thành vấn đề.

Cũng như tôi đã trình bày trong thư ngỏ ngày 19-02-2013 gửi Bộ Chính trị và BCHTƯ ĐCSVN nhân dịp các hội nghị Trung ương 4, 5 và 6 khoá XI, hôm nay xin nhấn mạnh: Đại hội XII tới dù “Ai ở? Ai đi?”, trong đảng dù phe nào thắng phe nào thua, nhưng làm đại hội như thế này, đất nước luôn luôn là người thua!

Trong thư ngỏ ngày 19-02-2013 tôi đã đề nghị: Theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4, Bộ Chính trị nên tự phê bình và nhận lỗi trước cả nước và toàn đảng về tình hình đất nước hiện nay, tự nhận kỷ luật là hết nhiệm kỳ này toàn thể Bộ Chính trị sẽ thôi không tham gia vào BCHTƯ khoá XII, để cho thế hệ trẻ trong đảng lên thay thế, cam kết trong nhiệm kỳ khoá XI này sẽ hoàn thành xây dựng đề án đổi mới đảng và thể chế chính trị như là một nhiệm vụ cuối cùng của mình với tính cách là Bộ Chính trị trước đất nước và toàn đảng.

Trong bài 3 “Chúng ta lựa chọn gì cho tổ quốc?”, tôi đã đề nghị phương án “ad hoc” như là một phương án phản biện song song với phương án chuẩn bị đại hội XII như đang tiến hành.

Trong bài này, vì bàn riêng vấn đề đổi mới đảng để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, tôi xin đề nghị bổ sung thêm:

  1. Tạm gác để lại bàn và chuẩn bị sau vấn đề nhân sự đại hội XII, kể cả việc bầu BCHTƯ mới.
  2. Nên thảo luận dân chủ trong toàn đảng đánh giá thẳng thắn và trung thực tình hình đất nước và những nhiệm vụ phải đề ra.
  3. Dựa trên kết quả đánh giá tình hình và nhiệm vụ (điểm 2), bàn việc xây dựng cương lĩnh mới để đổi mới đảng cho nhiệm vụ phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, xây dựng thể chế chính trị đa nguyên của nhà nước pháp quyền dân chủ. Tuyên Ngôn Độc Lập 02-09-1945 và Hiến pháp 1946 là căn cứ quan trọng cho việc xây dựng Cương lĩnh mới và cải cách thể chế chính trị.
  4. Xây dựng lộ trình và các bước đi phải thực hiện trong nhiệm kỳ khoá XII để hoàn thành được nhiêm vụ cải cách thể chế chính trị trong khoá này.
  5. Dựa vào khả năng và kết quả đóng góp của những đảng viên xuất sắc vào xây dựng cương lĩnh và đề án cải cách thể chế chính trị thông qua bầu cử trong đảng đưa họ vào thế hệ lãnh đạo mới.
  6. Đại hội quyết định việc tổ chức bầu cử Quốc hội khoá 14 đúng với tinh thần là nhà nước pháp quyền dân chủ đầu tiên trong thể chế chính trị mới, trong đó đảng phải phấn đấu để thông qua bầu cử trung thực trở thành đảng cầm quyền với đúng nghĩa. Quyết định xây dựng hiến pháp mới của nhà nước pháp quyền dân chủ trong đó thực hiện đầy đủ tam quyền phân lập.
  7. Đại hội quyết định đẩy mạnh phát triển xã hội dân sự, coi đây là một mặt trận quan trọng để nâng cao dân trí và quyền năng của nhân dân trong nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền dân chủ, phát huy quyền làm chủ đất nước của nhân dân để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
  8. Song song với thực hiện quá trình chuẩn bị đại hội XII (các điểm từ 1 – 7), vận động sự tham gia rộng rãi và công khai của cả nước cùng chuẩn bị đại hội của đảng, đúng với tinh thần đảng phấn đấu trở thành đảng của dân tộc, coi ý nguyện của dân tộc và việc của quốc gia là việc của đảng – nghĩa là đưa cuộc sống vào nghị quyết của đảng; đồng thời làm cho toàn thể nhân dân coi việc của đảng cũng là việc của mình, vì đất nước là của mình, cần chủ động tham gia. (Tất cả các bài tôi viết về đại hội XII đều được gửi đến Bộ Chính trị và Hội đồng Lý luận Trung ương, rất mong được thảo luận trong đảng và ngoài xã hội những vấn đề nêu lên).

*

Cải cách thể chế chính trị và đổi mới đảng để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc là hai nhiệm vụ chiến lược trọng đại nhưng vô cùng khó khăn và gian khổ. Như đã nói, đảng cần nhất quyết mở cửa tử đối với chế độ toàn trị để khai phá lối ra đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới đáp ứng được mọi đòi hỏi và thách thức mới của tình hình.

Khát vọng cháy bỏng của nhân dân tiến hành cuộc cải cách có ý nghĩa lịch sử trọng đại này là sức mạnh rất to lớn, đáp ứng khát vọng này, đảng sẽ có cả dân tộc về phía mình, đồng thời đảng sẽ có những điều kiện tốt nhất để phấn đấu trở thành đảng của dân tộc. Với quyền lực trong tay, vì đất nước, Bộ Chính trị và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có mọi điều kiện giúp cho nhân dân có đủ thông tin minh bạch về thực trạng đất nước hôm nay và những thách thức đang đe doạ đất nước, đứng ra tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý trung thực và công khai, xem bao nhiêu tán thành, bao nhiêu không tán thành “Khép lại quá khứ, không hồi tố, chắt chiu từng thành quả đất nước đã có được dù nhỏ nhất, không để mất lấy một giọt máu, với tất cả tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, cùng nhau một ý chí tổ quốc trên hết tiến hành cuộc cải cách thể chế chính trị toàn trị hiện nay, để xây dựng nên thể chế chính trị đa nguyên của nhà nước pháp quyền dân chủ, nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”! Chắc chắn đây sẽ là sự kiện Diên Hồng thứ hai trong lịch ngàn năm yêu dấu của đất nước chúng ta!

Con đường đi tới một nhà nước pháp quyền dân chủ sẽ vô cùng gian truân, bởi lẽ một nhà nước như thế chỉ có thể hình thành được trên cơ sở mỗi chúng ta phải thông qua học hỏi tự thay đổi chính mình để trở thành công dân tự do. Giác ngộ vị thế đầy thách thức của đất nước và quyền sống của chính mình, đấy sẽ là bước đi đầu tiên trên con đường cả nước cần phải chung tay khai phá này.

Cũng chưa bao giờ có hiện tượng hầu như toàn thế giới hoan nghênh và ủng hộ một sự nghiệp cải cách như vậy hiện nay ở Việt Nam, vì lợi ích của hoà bình, hữu nghị và hợp tác trên thế đang giới đòi hỏi như vậy, ngoại trừ rất ít một vài nước có tính toán khác. Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, không có lý do gì đảng không thành công.

Xin lưu ý cả nước và toàn đảng: Chúng ta không thể lựa chọn vị trí địa lý tự nhiên cho tổ quốc, nhưng tổ quốc chọn chúng ta phải đứng ngay sát nách Trung Quốc vậy. Cũng như Israel chọn dân tộc Do Thái phải sống giữa lòng thế giới Hồi giáo trùng điệp và xung khắc quyết liệt. Trước đây, bây giờ và mãi mãi sau này, chẳng có chủ nghĩa, cũng không có thần thánh hay thần tượng, và cũng không nốt hào quang lịch sử  nào có thể giúp dân tộc ta thay đổi được số phận của mình được định đoạt bởi các yếu tố tạo nên những thách thức trong thế giới này – bắt đầu từ yếu tố đầu tiên là vị trí địa lý tự nhiên của nước ta. Song đem so sánh dân tộc Việt Nam độc lập hôm nay với dân tộc Do Thái độc lập hôm nay, trong thâm tâm tôi thừa nhận dân tộc ta giác ngộ kém xa dân tộc Do Thái về nhận thức thách thức, càng kém hơn nữa về ý chí vượt qua thách thức. 40 năm độc lập rồi, nhưng dân tộc có lịch sử hơn hai nghìn năm này vẫn còn khờ dại quá, mơ hồ quá!… 40 năm độc lập rồi, ăn phải bao nhiêu của giả rồi mà vẫn không biết!… Bị nện bao nhiêu đòn rồi mà vẫn không tỉnh ra!… Hèn đến mức này mà vẫn cam chịu hèn tiếp!…

Sau gần một thế kỷ, Tản Đà bây giờ sống lại chắc sẽ rất đau lòng hỏi: Dân gần một trăm triệu ai người lớn? Độc lập 40 năm rồi vẫn trẻ con?

Không một người Việt Nam nào có thể vô cảm để cho tổ quốc của mình sống như  thế này!

Hà Nội, tháng 9 – 2014

N.T.

***

[1] Nguyễn Trung, “Diễn văn của Tổng thống CHLB Đức, Joachim Gauck, tại lễ kỷ niệm 150 năm ngày thành lập Đảng Xã hội dân chủ Đức (SPD)”.

[2] “Hai phe bốn mâu thuẫn”: Phe xã hội chủ nghĩa, phe tư bản chủ nghĩa; bốn mâu thuẫn: (1) mâu thuẫn giữa đế quốc và chủ nghĩa xã hội, (2) giữa chủ nghĩa đế quốc và phong trào độc lập dân tộc, (3) giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư bản tại các nước đế quốc, (4)mau thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau.   Chiến tranh lạnh: 1945 -1990.

[3] Nguyễn Trung –  “Hoang tưởng và hiện thực” (Trao đổi ý kiến với anh Tống Văn Công, đồng gởi anh Lữ Phương) — Thời Đại Mới, tháng 11, 2012

[4] Xem (1) A. Tocqueville “Democracy in America”, (2) Daron Acemoglu & James A. Robinson “Tại sao các quốc gia thất bại”, (3) David Held “Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại”, vân vân…

[5] Nên hiểu điều này theo suy nghĩ của một nhà khoa học Liên Xô trước đây: Ai bắn vào lịch sử một phát súng lục, sẽ được lĩnh nhận trở lại cả một phát đại bác cho hiện tại và tương lai.

Nguồn: viet-studies.info

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: