Sấm Trạng Trình -2-

( Không rõ tác giả ) 

Sấm Trạng Trình ( 2006 )

( Có giải nghĩa  từng câu chữ Hán trong văn bản  )

Đăng ngày: 05:13 06-06-2008 trên thư viện mở Wikipedia

Sau khi lấy lý học chiêm tinh thời thế các nhà du ngôn (tức là Sấm ký) Tầu như Khổng Minh, Lưu Bá Ôn hoặc Trạng Trình  của ta đã đem bát quái ra thông vào thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên chia ra bao nhiêu kỷ. Trên linh từ lúc khai thiên lập địa, dưới đời sau. Xưa là các thời đại vua chúa, xét vào quẻ hưng suy, bĩ, loạn đều ứng với nhau nên lấy quẻ ra mà chiêm nghiệm việc đời cũng đoán theo quẻ mà thôi, chứ không phải biết trước hẳn sau sẽ thế nào. Vậy cho nên đời sau cũng cứ phải đợi xẩy ra mới biết câu tiên tri là đúng. Xem sấm phải biết như thế, ai cũng hay có ý đoán riêng của mình.

Sấm Trạng Trình ( một trong 4 bản của Viện Hán Nôm ):

Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đảo sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy
Truyền hậu thế ai nấy xem cho
Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người
Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên
Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân
(1) Lê Hoàn kế vị xa gần âu ca
Truyền đã được mười ba rằm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng
(2) Ngôi trời truyền đến Lý nay
Long thành bát diệp đến ngày dực phân
Chiều Hoàng là ả nữ quân
(3) Mê về nhan sắc trào trần thái tôn
………………………………………………..
Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền
Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam
Thái ngu được mười bốn năm
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
Suy ra mới biết sự trời
(4) Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia
Mười đời ngồi ngự ngai vàng
(5) Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh thư
Xưa làm lực sỹ đồ du
Trời cho nên trị làm vua một đời
Sáu mươi năm bất tái hồi
Tống Sơn chốn ấy có đời thạch công
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
(6) Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia
(7) Tây Sơn sừng sực kéo ra
Nghiệm xem thế tục gọi là hiệu chi ?

Chú thích:

(1) Vua Lê Đại Hành, sinh ở xã Bảo Thái, Thanh Liêm
(2) Tên gọi Công Uẩn sinh ở chùa tháp Bắc Ninh khi đẻ có báo điềm rất lạ
(3) Trần Thái Tôn tên là Cảnh, quê ở Tức Mạc, huyện Thiên Trường – Nam Định nhờ có chú là Trần Thủ Độ mà được thiên hạ.
(4) Ý nói Lê Thái Tổ tên gọi là Lê Lợi quê ở núi Lam Sơn thuộc Thanh Hoá có Thanh kiếm thần mà giết được giặc Liễu Thăng, Hoàng Phúc.
(5) Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời của Mạc Đinh Chi
(6) Trịnh Kiểm
(7) Nguyễn Huệ hiệu là Quang Trung phò nhà Lê diệt nhà Trịnh

Lại có Ngạn rằng:

Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Chú thích:

Nguyễn Huệ ra đời cả cha cả con cầm quyền được 14 năm thì hết

Có thơ rằng:

Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nọ nào ngang dọc trong huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi

Ngạn lại có câu rằng:

Già bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no un ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại diệt dê
Tới khi thực tận kinh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Giốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư dôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…

Chú thích:

Đoạn này theo tôi Sấm nói về Nguyễn Huệ. Cha con Nguyễn Huệ ra đời được 14 năm thì hết. Nguyễn Huệ chết như gà mẹ bỏ con. Sau đó Nguyễn ánh lấy lại được giang sơn.

Có thơ rằng:                    Dần Mão chư dương giai vị cập
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ điện trường ức vạn xuân

Chú thích:

Đoạn này nói về nhà Nguyễn và thực tế cung đình nhà Nguyễn hiện nay đã được thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới (rất đúng) nên tồn tại đến muôn đời.

Có thơ rằng:

Hậu đáo Kê lai khởi chiến qua
Thuỳ Tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất
Tráng sỹ tảo sơn hà
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình

Chú thích:

Năm thân (khỉ) Năm dậu (gà) gây sự đánh nhau. Ai hay thiên hạ xoay chuyển như cát bụi, anh hùng chôn ở bụi cỏ, da ngựa bọc thây, vở ruộng thì vua ra, đuôi dài quét núi sông. Theo tôi đây là nói đến thời đại cộng sản vua là Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:                          Hoành Sơn phân giải
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh (1)

Chú thích:

(1) Đây nói về Hồ Chí Minh ra đời

Thơ rằng:

(1) Hầu nguyệt thỏ đầu xuất
Chấn đoài cương bất chấn
Quần Vương giai đạo tặc
(2) Bách tính khổ tai ương
Ma vương sát quỷ tướng
Hoàng thiên chu ma vương
Thuỷ trung tàng bảo cái
Thử thi thánh nhân hương

Chú thích:
(1) Đoạn này nói năm hầu (thân) là 1944 – 1945 thì thánh nhân (tức Hồ Chí Minh) xuất hiện ra
(2) Thánh nhân ra làm cho bách tính khổ về những tai ương. Đến cung chấn cung đoài thì không giữ được nữa. Thuỷ Trung là làng Sen quê ông Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:

Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bách Sỷ mới ra đời
Thầy tăng mở nước trời không bảo.
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu an thân
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi

Chú thích:
– Đảng Cộng Sản Việt Nam sau nay chia ra ba phái rồi thì ba phái gây ra sự đánh nhau. Thiên hạ mười phần còn chỉ lưa một phần là còn tin Đảng mà thôi. Lúc này ông Bạch Sỉ ra đời. Thầy tăng (là thằng tây) chỉ nước Mỹ giúp đỡ Việt Nam thì những kẻ tham của, tham giàu (chỉ các quan tham của cộng sản phải tìm nơi tam hiểm mới an thân được)
– Đăng giang là sông Bạch Đằng, Kim Ngưu là Hồ Tây.

Thơ rằng:                         Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi Trú đình
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.

Chú thích:

Đoạn này nói chỗ cư trú của ông Bạch Sỉ. Bốn bụt nghĩa là bốn ông thánh đều theo Đạo phật. (Nghiêu, Thuấn) là hai vua hiền ở Trung Quốc (ý nói ông Lý Đông A như Nghiêu Thuấn)

Thơ rằng:

Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn
Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lo phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi
Suy cho thấu biết sự đời
Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa

Chú thích:

Đất nước ViệtNamloạn lạc, thiên sầu, địa thảm lòng người bất an, ai cũng mong thời thế thay đổi cuối cùng thì ông thánh xuất ở khảm phương ra cứu muôn dân. Đó là ông Lý Đông A có hiệu là Trần Kha

Thơ rằng:

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thuyền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A

Chú thích:
1- Đương lang là con bò ngựa, thuyền là con ve sầu.
2- Nên biết rằng là con chim sẻ ở bên cạnh mình xót thời thế thì cả ba con đều bị mất mồi ăn.
3- Chim sẻ bị người ta săn bắn
4- Đi săn phải hổ đuổi
5- Năm Thìn, năm Tỵ có sao chổi ra điềm lạ (2000- 2001)
6- Thần ra điềm chẳng lành chín chín nhà.
7- Sửu Ngọ niên thiên hạ giao động (1985 và 1990)
8- Dưới chữ đinh biến ra chữ trần. Nghĩa là ông thánh có hiệu là “Trần Kha”

Thơ rằng:

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào ?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề

Chú thích:

Theo tôi thì Đảng cộng sản bấy lâu cậy mình tài giỏi nhưng đến lúc “Thầy tăng” là thằng tây mở nước thì Đảng không còn những (phép mầu nữa) mà đã trở thành quỷ sứ cuối cùng đảng tan thì có những kẻ chạy qua Trung Quốc chứng tỏ đảng cộng sản Trung Quốc mất sau cùng.

Thơ rằng:

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng
6- Thiên hạ thái bình

Chú thích:
1- Đức di lặc phật giáng thế
2- Có các bùa phép để trừ
3- Sáu bảy năm mới thành
4- Dựng kinh đô ở trên hang con Rồng (Hà Nội)
5- Trên cung điện có mặt trời chiếu xuống
6- Lúc này thiên hạ được thái bình

Thơ rằng:

Giang Nam nổi trận mạt thù
72 tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận kể người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem
Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thuỷ binh cờ xí vừng hồng
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
(1)Bắc kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
(2) Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng dục dân cày bừa
Đã ngu dại Hoàn linh đời Hán
(3) Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sáu tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho
Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh giấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…

Chú thích:

1- Quân Trung Quốc sang
2- Lịch sử nước Việt Nam chưa có sự lạ lùng nào hơn là đảng đã luôn vu vạ cho dân (như vu khống các đảng viên đảng cộng sản, vu khống cho các nhà đấu tranh cho dân chủ)
3- Quan chức đảng cộng sản đều dùng tiền mua cả.
4- Lúc này có lẽ nhân dân nổi dậy.
Đoạn này ý nói có 72 tướng giỏi phò ông Lý Đông A và các tướng cộng sản sau này khi gặp quân ông Lý Đông A thì đều đầu hàng và theo ông Lý Đông A cả. Quân đội ông Lý có bộ binh, thuỷ binh. Sau rước ông Lý Đông A về Hà Nội.

Sau đó Trung Quốc sang nhưng không làm được gì, đành phải về.
Còn đoạn này nói những người cộng sản đã ngu dại như Hoàn Linh đời Hán nên họ đã nhờ và dựa vào Trung Quốc và Trung Quốc đã dấy binh ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhưng rồi thời thế đã không làm gì được đành phải chịu về chắc lúc này có nước Mỹ (thầy tăng) can thiệp chăng?

Thơ rằng:

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhân giãn giục dĩ chu nhi tống
4- Phong nhĩ tung hoàng thị mạc vi

Chú thích:
1- Năm thân, năm dậu cũng chưa thành
2- Dân bị hãm hại, quân lại di đi nơi khác
3- Nước nhà đa sự thì nhà Chu thay lên làm nhà Tống cũng thế (ý nói đảng cộng sản thì ai lên nắm quyền thì cũng đều thế cả)
4- Ong kiến đã tung hoành làm lấy các việc lớn (Ong kiến chỉ bọn tiểu nhân thực tế là chỉ Triều đinh đảng cộng sản)

Thơ rằng

(1) Hạ huyên thượng đảo quân vô chủ
(2) Tài tận dân hao thế lực suy
(3) Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
(4) Kham tiếu không huyền tiếm thất ky
Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu dòng hải người tàn bắc lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông
Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
(5) (*) Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, Hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông
(6) (*) Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
Bõ khi kẻ việt người Hồ
Bõ khi kẻ sở người ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi
Tinh thái ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thập gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
(7) (*) Thấy đâu bò đái thất thanh
ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì

Chú thích:
1- Chính quyền đảng cộng sản trên dưới đảo ngược như không có chủ
2- Tài hết, thế lực hết nên nước suy
3- Dân ra đánh nhau máu chảy thành sông
4- Chính quyền chẳng khác gì cái đàn không có dây
5- Chiến trường dân nổi loạn khắp nơi. Ông Lý Đông A ra đời kẻ cầm quân của đảng cộng sản chả có tài cán gì như đứa trẻ con nên đã dễ đầu hàng.
6- Ở Thái Nguyễn cận phía Bắc có ba người giỏi gặp ông Lý Đông A. Sau họ đều là những người nắm quyền trong chính phủ mới của ông Lý Đông A
7- Ở Bắc cạn có cái suối chảy, nước như là con bò đái cả ngày, lúc nào ngừng chảy thì ông thánh ra đời.

Thờ rằng:

Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời
(1) Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vẫn nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa

Chú thích:
(1) ông Thánh Lý Đông A ra đời thì thuận lòng trời và đẹp lòng dân. Nhân dân ai cũng theo ông Lý Đông A cả, kể cả đảng viên đảng cộng sản.

Thơ rằng:

Quân hùng binh kéo đầy khe
Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời
Bấy giờ càng khốn ai ơi
Quỷ ma chật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau, ăn muối.
Gặp nước buông con cái ẩn đâu ?
Báo thù ấy chẳng sai đâu
Đạo trời chẳng trước thì sau chẳng nhầm
Kia những kẻ hai lòng sự chủ
Thấy đâu hơn thì phụ sở ân
Cho nên phải kiếp trầm luân
Ai khôn mới giữ được thân đời này
Nói cho hay khảm cung ong dậy
Chí anh hùng chiếm lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt đan
Ai mà nghĩ được mới nên anh tài
Hễ nhân kiến là đời đất cũ
Thì phụ nguyên mới trổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quân hùng nổi dậy điều hoà làm tôi
Bấy giờ ruộng mở quy khôi
(1) Thần trâu thu cả mọi nơi vẹn toàn
Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Hoàng phúc kia đã định tay phong
Lồng lộng thế giới rạng trong
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương
Giời sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Giốc sinh hiền điều chỉnh hộ mai
Trên trời thấy những vì sao lạ
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sỷ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật tượng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
Đời này thánh kế vi vương
Thu cả đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác thường
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ sẻ mới ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
Xem sắc mây vẽ rõ vẻ rồng
Thánh nhân cư có thuỷ cung
Quân thần đã định gia lòng chớ tham
Lại dặn đừng tú man chi cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết nhẽ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
(2) Bất kỳ nhi ngô tưởng gì đợi mong
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tý đều không
Ví dù có gặp Ngư Ông
Lưới chăng đầu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đứng trời trung quân tử
Lòng trung nghĩa hãy chứa cho tinh
Âm dương cơ ngẫu ngộ sinh
Thái nhâm, thái ất trong mình cho hay
Văn thi huyện nghiên bài quyết thắng
Học tử phòng cùng với Khổng Minh
Võ thông yên thuỷ thần kinh
Được vào chiến trận mới lành biết cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết trao tay miệng tiếng nói không
Ngộ may gặp hội mây rồng
Công danh rực rỡ chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí tài
Lọ là đâu phải ngược xuôi nhọc mình
Vương lương thực có vĩ kinh
Cao tay mới biết ngẫm tình năm nao
Trên trời có mấy vì sao
Đủ cả hiền tướng anh hào đòi nơi
Nước Nam thường có thánh tài
Ai khôn học lấy hôm mai mới tường
So mấy lề để tàng kim quỹ
Chờ sau này có chí mới nên
Trước là biết nẻo tôn phù
Sau là cao trí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung thiên thời bất tạo
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham tước, tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
Đôi phen ong dấy rầm rầm
Muông sinh ba góc kéo quân dấy loàn
Man mác một lĩnh hoành sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
ấy là quân phục thù thai thải
Lòng trời xui ai lại biết chi
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Tài binh mọi giống thập thò liền sang
Nọ chẳng thương trong nam khôn xiết
Vả lại thêm hung kiết mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Sang thu chín huyết hồng tứ giã
Nối đàn dê tranh phá đòi nơi
Đua nhau quân thán đồ lê
Bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải lửa hung hoang
Kẻ thì binh lửa chiến tràng chết oan
Kẻ thì bận của bông toan khốn mình
Muông sinh giông tố cạnh tranh
Điêu thì làm tước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh hành
(3) Ra đâu đánh đấy xuất binh sớm ngày
Bể thành cá phải ẩn cây
Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn ru
Thuỷ chiến bộ chiến mặc dầu đòi cơn
Cây bay lá cháy đôi ngàn
Một làng còn nhấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết nơi hoà bảo thân
Đoài phương thật có chân nhân
Quần tiên dĩ nghĩa chẳng phân hại người
Hễ đông nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa keo mắc đạo binh
Bắc kinh mới thật đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
Cấy cày tu dãi thời mùa
Bây giờ cấy ruộng lo chờ mướn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng phiền lương thêm
Xem tượng trời biết đường đời trị
Ngẫm về sau họ lý xưa nên
Dòng nhà đã thấy dấu truyền
Ngẫm xem thế giới còn in đời đời
Thần quy có nó ở trời
Để làm thần khí sửa nơi trị trường

Chú thích:
Đoạn này nói tài đức của ông Trần Kha (Lý Đông A) cuối cùng sấm kết luận chỉ có họ Lý là trường tồn mãi mãi và ông Lý Đông A không làm hại đến ai cả. Là người nhân đức tài giỏi thật sự. Khi ông thánh ra thì không ai ngờ được cả, Sấm còn khuyên ai đi theo ông thánh mà có tài thì như gặp hội mây rồng người đó sẽ có công danh.
1- Ông Lý Đông A ra đời thì ông Lý đã thu lại được giang sơn đất nước đã bị đảng cộng sản Việt Nam nhường cho Trung Quốc
2- Ông Lý Đông A ra đời rất đột ngột và không ai biết trước được cả
3- Quân ông Lý Đông A ra đâu đánh đấy, giống như quân của Hán Tín thời nhà Hán vậy.

Dân bị khổ chiến trong 10 năm

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Sông bảo giang thiên định ai hay ?
Lục thất cho biết ngày rầy
(1) Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
Có thầy nhân thập đi về
(2) Tả hữu phù trì cây cỏ là quân
Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai
Bấy giờ mới biết rằng tài an dân
Nọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân đi về

Chú thích:
1- Họ Nguyễn (Chữ phụ bên chữ Nguyên)
2- Bên tả, bên hữu của ông họ Nguyễn (Cây cỏ là quân) ý nói bên tả bên hữu ông họ Nguyễn đều là bọn tiểu nhân cả. Nguyễn là Hồ Chí Minh và dân bị khổ chiến trong 10 năm (rất đúng)

Những câu sấm ngắn

(1) Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nhà Nguyễn thất thế nhà Lê trị vì

(2) Bao giờ giặc đánh trên mây
Ăn chia công điểm dân cày khổ ghê

(3) Bao giờ đá nổi lông chìm
Đồng khô hồ cạn búa liềm đánh nhau

(4) Mười phần chết bảy còn ba
Lưa hai phần rưỡi mới ra thái bình

(5) Bao giờ giấy bạc thành tro
Cua đồng đổi cọng chữ nho lại về

(6) Khi nào O mụ cầm quyền
Thì dân trăm họ đeo phiền lắm ru

(7) Trực đáo dương đầu mã vị
Hồ công bát vạn nhập tràng an
Phong công hầu bách vạn dư thiên
Khinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc

( Trắng đầu làm tội chưa qua
Đỏ đầu làm tội bằng ba trắng đầu

(9) Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm

(10) Khôn chết, dại chết, biết sống

Chú thích:
1) Nguyễn ái Quốc đi ra nước ngoài, sau Nguyễn về. Sau đó thì Nguyễn Thất thế bị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tiếm quyền (rất đúng thực tế) và đến năm 1965 thì Cụ Hồ không còn quyền hành gì nữa.
2) Đến thời đại có máy bay đánh trên không thì cũng là Đảng Cọng Sản lùa dân vào hợp tác xã nên đã ăn chia công điểm và thời ấy dân rất khổ.
3) Đá là Tưởng Giới Thạch, lông là Mao Trạch Đông, đồng là Phạm Văn Đồng, Hồ là Hồ Chí Minh. Nghĩa là Sấm muốn nói sự nghiệp họ Tưởng thì càng ngày càng thịnh, còn Mao, Đồng, Hồ đều như là ruộng hồ cạn mà thôi, nghĩa là rồi mất dần. Rồi các Đảng Cọng Sản tự đánh lại nhau.
4) Trong thế giới cộng sản có khoảng 15 nước dến khi thế giới cộng sản mất gần hết chỉ còn lại Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào thì nước Việt Nam Đảng cộng sản mới đi theo xu thế hoà bình coi tất cả các nước là bạn (rất đúng thực tế).
5) Năm 1985 đổi tiền nên phải đốt tiền, sau đó cua đồng đổi cọng thì Đảng cộng Sản lại đề cao “Văn hoá dân tộc” và tư tưởng nho giáo đã trở lại với dân tộc Việt Nam.
6) Khi chính quyền Đảng Cộng sản có bà Bình, bà Trương Mỹ Hoa cùng nắm quyền (làm phó chủ tịch nước) thì dân trăm Họ luôn phải đeo phiền và bị oan trái.
7) Đến đầu năm Mùi cuối năm ngọ (1945) 8 vạn binh của họ Hồ đến Hà Nội, ông Hồ đã phong tước công, tước hầu dư ra hàng vạn, hàng nghìn người. Ông Hồ đã dùng toàn những kẻ tiểu nhân sau đó xẩy đến mất nước (rất đúng thực tế hiện nay)
8 ) Pháp cai trị chưa qua, cộng sản cai trị ác gấp ba lần pháp.
9) Ý nói sống trong thời đại cộng sản thì phải dối trá, chứ thật thà là chết.
10) Người tài thì bị đảng giết, người dại thì bị đảng lừa; người nào sống xu thời nịnh bợ thì sống yên được.

Những bài sấm ngắn

Trời sinh thiên tử ở hoả thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
(1) Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử bảo giang môn
Canh tân tàn phá (2)
Tuất hợi phục sinh (3)
Nhị ngũ dư bình (4)
Nhân sinh ngọ tuế vi sư (5)
Tị nhân vị tướng (6)
Thìn tuất vị tôn sư (7)

Chú thích:

Đoạn này nói về Hồ Chí Minh
1- Hồ Chí Minh trước khi sinh ra cha và mẹ đã xa nhau mỗi người ở một nơi (rất đúng thực tế)
2- Năm 1930 – 1931 tàn phá (Xô Viết Nghệ Tĩnh)
3- 1946 – 1947 thì đảng cộng sản mới khôi phục lại được phong trào.
4- Đảng cộng sản ra đời 1930 đến năm 1954 là 25 năm mới có chính quyền thật sự (mới bình định được)
5- Ai sinh năm ngọ được làm thầy
6- Người sinh năm tị được làm tướng
7- Người sinh năm thìn năm tuất thì được làm thầy chính tông (ý nói phong nhiều quan lại quá).

Thơ rằng

1- Thánh nhân hương
2- Thuỷ chung tàng bảo cái
3- Thánh nhân chu xứ
4- Tử bích hoàn nhiễu, long hổ chầu vào
5- Chỗ thánh nhân sinh ra
6- Cận bảo giang thuỷ
7- Thuỷ nhiễu chu toàn
8- Thánh nhân danh
9- Mộc hạ liên đinh khẩu
10- Thánh nhân diện bộ đạo đức
11- Nghi quảng tầm chương trích cú
12- Thánh nhân dĩ hữu niên
13- Thuỳ năng thức đắc yên
14- Dãn nhân bất chúc nhĩ
15- Nhập ba thục xuất thái nguyên
16- Thánh nhân sinh ư bách sỉ tự tối linh
17- Thử nhật thiên giáng ngũ sắc vân xích quang màn tự
18- Tự trung dị hương, tam nhật bất tán
19- Thầy tăng tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị
20- Toại chưởng dưỡng chi
21- Thánh mẫu diện xú như lam
22- Niên tam thập lục sinh thánh nhân
23- Hoài nhâm chi nhật
24- Tam nhật thực nhất lý ngư
25- Cư ư giang thượng
26- Quần ngư tranh được
27- Mối trạch kỳ, mỗi tiểu chữ thục thực chi
28- Hậu thường tầm thực chi vu bạch sỉ
30- Nhược ấu thời, cư tại nam nhi thuỷ huyện
31- Cận gia quan thời cư ư thái nguyên viên sơn
32- Thất thập nhị hiền diệc tại thử yên

Chú thích:

1- Nơi sinh ra ông Thánh nhân
2- Trong làn nước biếc chứa tàn lọng quý
3- Chỗ trú ngụ của Thánh nhân
4- Long hổ bốn bên chầu cả vào
5- Nơi sinh ra Thánh nhân
6- Gần sông Bảo giang
7- Xung quanh đều có nước
8- Tên hiệu của Thánh nhân
9- Chữ mộc ở dưới chữ đinh là quẻ ly
10- Ông thánh nhân diện mão rất có đạo đức
11- Nên tìm rộng từng bài chọn từng câu
12- Thánh nhân sinh ra đã lâu năm
13- Ai đã dễ biết được
14- Vì người ta chẳng biết vậy
15- Vào Ba Thục, ra Thái Nguyên
16- Thánh nhân sinh ở chùa Bạch sỉ rất thiêng
17- Ngày ấy sinh ra ông thánh nhân trời có năm sắc mây
18- Đỏ sáng khắp cả chùa
19- Chùa trong có mùi thơm ba ngày không hết
20- Lúc bấy giờ có ông sư tu cho điềm lạ có thánh nhân.
21- Sư bản tự nuôi lớn cho đến trưởng thành
22- Mẹ ông thánh nhân mặt xấu như đổ chàm
23- Bà mẹ 36 tuổi sinh ông thánh nhân
24- Tính từ ngày có thai
25- Trong ba ngày lại ăn một con cá chép
26- Trú ở bên sông
27- Lũ cá tranh nhau nhảy vào
28- Chọn xem con nào bé thì nấu ăn
29- Sau thường đi kiếm ăn quanh chùa Bạch Sỉ
30- Rồi sinh ra ông thánh nhân
31- Lúc nhỏ sinh ở Nam nhị thuỷ huyện
32- Lúc lớn ở Thái Nguyên núi Viên Sơn

72 người hiền đều ở cả đây
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh nhân ở Bạch Sỉ tên là Lý Đông A. Ông Lý Đông A là con của bà ăn mày có diện mạo rất xấu

Thơ vận niên bằng tên các con súc vật

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn sà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho hả dạ
Lợn kia làm quá phải xoay đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh chạy về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về chốn cũ bắt vào tầu
(1) Lợn nằm cũng thấy tên thù
(2) Đại binh đã động phục thù nghênh ngang
Thánh chúa đang ở hang vàng
(3) Khi nào chuột bắc cầu sang mới về

Chú thích:

1- Theo tôi qua năm hợi 2007 thì nhân dân Việt Namthấy được kẻ thù của nhân dân là ai.
2- Lòng quân dân đã giao động rất nhiều và họ muốn phục thù (hoặc là đại binh của ông Lý Đông A đang chuẩn bị ra đánh)
3- Qua năm chuột (200 thì có lẽ ông thánh về

1- Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tân
2- Trực đáo dương đầu mã vĩ
3- Hồ công bát vạn nhập Tràng An
4- Phong công hầu bách vạn dư thiên
5- Kinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc
6- Thực vị lai tại thực vi lai
7- Nam môn vị toả, bắc môn khai
Phong suy ngọc diện lai lai vãng
8- Nghĩ tụ kim thành khứ khứ hồi
9- Bách tính âu ca thiền vũ dạ
10- Cửu châu hoa thảo mả liên đôi
11- Thử hồi nhị ngũ thiên chu tống
12- Hảo bá sơn đầu tửu nhất bôi
13- Thiên địa tuần hoàn âm phục dương
14- Tứ phương binh khởi tứ phương cường
15- Tây dương cảnh giới tây dương chủ
16- Nam quốc sơn hà, nam quốc vương
17- Lý đỉnh tương huyền, hiềm đỉnh trọng
18- Mạc thành dục chúc, khủng thành trường
19- Hoành sơn lộc tẩu nhân dân cộng
20- Thái lĩnh long phi thục cảm đương

Chú thích:

1- Chín chín càn khôn trời đã định trước
2- Đến đầu năm mùi cuối năm ngọ (1954)
3- Tám vạn binh của họ Hồ đến đất tràng an
4- Họ Hồ phong tước công, tước hầu dư
Ra hàng vạn, hàng nghìn người
5- Họ Hồ dung bọn tiểu nhân sau xẩy đến mất nước
6- Ai chưa lại vậy hay chưa lại
7- Chưa khoá cửa nam, đã mở cửa bắc
8- Lũ kiến ở thành vàng đi rồi lại về
9- Trăm họ xướng ca mà âu sầu về đêm
10- Khắp nơi mả chôn như cỏ mọc
11- Hồi bấy giờ dân chúng nhường ngôi cho nhà Chu không phải đánh nhau.
13- Trời đất xoay vẫn âm suy dương thịnh
14- Bốn phương quân khởi bốn phương mạnh
15- Đất phương tây thì chủ tây
16- Sông núi Nước Nam thì Vua Nam
17- Cái đỉnh của nhà Lý muốn treo hiếm đỉnh nặng
18- Thành nhà Mạc muốn đắp sơ thành dài
19- Con hươu ở núi Hoành Sơn chạy đi với nhân dân rồi lại chạy về (Câu này ý nói đầu cụ Hồ đi con đường dân tộc độc lập, nhân dân tự do nhưng sau lại trở lại học thuyết Mác Lê Nin)
20- Ở trong núi Thái Lĩnh có con Rồng bay ra, ai dám địch.
Đoạn này sấm nói đến sự ra đời của đảng cộng sản và ông HCM mà nhân dân ta đã phải chịu cảnh đau khổ mồ mả chôn nhiều như cỏ mọc.

Có thơ rằng  :   1- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
2- Can qua xứ xứ khởi đao binh
3- Mã đầu dương cước anh hùng tận
4- Thân dậu niên lai kiến thái bình

Chú thích:

1- Cuối năm thìn đầu năm tỵ gây ra đánh nhau
2- Khắp nơi khí giới gây ra sự đánh nhau
3- Từ năm ngọ đến năm mùi các vị anh hùng đều chết dần hết
4- Năm thân năm dậu mới có thái bình
Theo tôi đây là sấm nói về cuộc chiến tranh thế thới lần thứ hai, chống phát xít Đức, ý, Nhật.

Thơ rằng

1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành
3- Lê dân đào bảo noãn
4- Tứ hải lạc âu ca
5- Dục thức thánh nhân hương
6- Quá kiều cư bắc phương
7- Danh vị Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh Ngưu lang
8- Bắc hữu kim thành tráng
9- Nam tạc ngọc bích thành
10- Hoả thôn đa khuyển phệ
11- Mục giã dục nhân canh
12- Phú quý hồng trần mộng
13- Bần cùng bạch phát sinh
14- Anh hùng vương kiếm kích
15- Minh cổ đổ thái bình

Chú thích:
1- Sông Bảo giang có vị Thiên tử giáng
2- Chẳng đánh mà tự nhiên thành (rất đúng nhờ Nhật Pháp đánh nhau nên đến ngày 2-9-1945. Cụ Hồ không cần đánh mà vẫn đọc được bản “Tuyên ngôn độc lập” ở Ba Đình – Hà Nội)
3- Nhân dân chạy trốn trở về được no ấm
4- Bốn phương vui mừng đều hát xướng (Chứng tỏ lúc đầu nhân dân rất tin vào Hồ Chí Minh)
5- Muốn biết làng ông Thánh nhân
6- Qua cầu đi về phương bắc
7- Tên dòng dõi nhà họ Nguyễn
8- Bắc phương có thành vàng bền chặt
9- Phương nam có một viên ngọc biếc
10- Ở xóm lửa nhiều chó cắn
11- Bỏ súc vật để người canh
12- Giầu sang giấc mộng hồng trần
13- Nghèo đói quá sinh tóc bạc
14- Vua ban cho người anh hùng một thanh kiếm
15- Người mù loà cũng mong được thái bình (Đất nước nghèo khổ chiến tranh ai cũng mong thái bình cả)

Thơ rằng:

1- Việt Nam hữu Ngưu tinh
2- Quá thất thân thuỷ sinh
3- Địa giới sỉ vị bạch
4- Thuỷ trầm nhĩ bất kinh
5- Kỵ mã khu dương tẩu
6- Phù kê thắng đại minh
7- Trư thử giai phong khởi
8- Thìn mão xuất thái bình
9- Thuỷ chung tàng bảo cái
10- Hứa cập thánh nhân hương
11- Mộc hạ trâm trâm khẩu
12- Danh thế xuất nan lường
13- Danh vị nguyễn gia tử
14- Tinh bản tại ngưu lang
15- Mại dữ liên viên dưỡng
16- Khởi nguyệt hộ đại giang
17- Hoặc kiều tam lộng ngạn
18- Hoặc ngụ kim lăng cương
19- Thiên dữ thần thực thuỵ
20- Thuỵ trình ngũ sắc vân
21- Kim kê khai lực diệp
22- Hoàng cái xuất quý phương
23- Nhân nghĩa thuỳ vi địch
24- Đạo đức thục dữ đương
25- Tô truyền nhĩ thập ngũ
26- Vận khải ngũ duyên trường
27- Vận đáo dương hầu cách
28- Chấn đoài cương bất chấn
29- Quần gian đạo danh tự
30- Bách tính khổ tai ương
31- Can qua tranh đấu khởi
32- Phạm địch thán hung hăng
33- Ma vương sát đại quỷ
34- Hoàng thiên chu ma vương
35- Kiến khôn phú tải khôn lường
36- Đào viên đỉnh phú quân dương tranh hùng
37- Cơ nhĩ ngũ thư hùng vị quyết
38- Nẻo Hoành sơn tam liệt ngũ phân
39- Ta hồ vô chủ vô quân
40- Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
41- Đoài phương phúc địa giáng linh
42- Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
43- Phá điền thiên tử giáng trần
44- Dũng sỹ như hai mưu thần nhược lâm
45- Trần công nãi thị phúc tâm
46- Đào, tiềm, sử sỹ giang hồ xuất du
47- Tướng thần hệ xuất y chu
48- Chư cơ phục kiến, đường ngu thị thành
49- Hiệu xứng thiên hạ thái bình
50- Đông tây vô sự nam thành quốc gia
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành
Tên treo ba mối phục thù
55- Khen thay khắc dụng bày trò cho con
Ngọn cờ nhô nhấp đầu non
56- Thạch thành mèo lại bon bon chạy về
Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngã trắng ba quê cuộc tàn
Trời nam giở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng giao đã có câu rằng
57- Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Xin ai nhớ lấy sâm ghi kẻo lầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu giám chống thư sinh
58- Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Nực cười những lũ bàng quan
59- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

Chú thích:

1- Việt nam có sao ngưu tinh
2- Mới sinh ra sự nhầm lỗi
3- Răng trắng khác địa giới
4- Đáy nước ta chẳng sợ
5- Cưỡi ngựa đuổi dê chạy
6- Phù gà thắng đại minh (câu này ý nói là đảng cộng sản thắng chính quyền miền nam. Dù chính quyền miền nam có đường lối chính trị, kinh tế đúng với thời đại)
7- Năm hợi năm tý đều dấy lên là những năm 1971 – 1972
8- Năm thìn năm mão thì thái bình nghĩa là đến năm 1975 – 1976 thì thái bình (thống nhất hai miền nam bắc)
9- Lòng chung thuỷ được che bằng lọng vàng quý (Đạo đức giả)
10- Sẽ được về đến quê ông thánh nhân
11- Bao nhiêu miệng khen ngợi dưới bóng cây
12- Tên ở đời ra khó mà lường được (Hồ Chí Minh rất nhiều tên giả)
13- Tên ở con nhà họ Nguyễn
14- Căn bản ở làng ngưu lang (hay là anh chăn trâu)
15- Bán cho anh Liên Viên nuôi
16- Khởi lên từ sông đại giang
17- Hoặc ở bờ sông tam động
18- Hoặc trú ở núi kim lăng
19-Trời đã cho các thần báo điềm lạ
20- Ứng hiện ra năm sắc mây
21- Gà vàng mở ra lá mạnh
22- Lọng vàng ra ở phương quý
23- Người nhân nghĩa không ai địch được
24- Người có đạo đức không ai bì được
25- Truyền được 25 năm (HCM ra đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945 đến năm 1969 thì chết đúng 25 năm)
26- Vận dài lâu được năm duyên (Sau ông Hồ thì còn được 5 người là Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh)
27- Vận đến năm mùi, năm thân thì có tai ách là các năm 2003 – 2004 thì đảng đã thật sự bị chia ra nhiều phe phái và nhân dân cũng như các nhà đấu tranh cho dân chủ bắt đầu nổi dậy.
28- Đến cung chấn cung đoài thì đảng hoàn toàn suy thoái đảng không còn giữ được nữa
29- Quân gian đọc trộm các pho sách quý (ý nói các đảng viên đảng cộng đọc những bài viết rất hay rất chí lý của các nhà đấu tranh cho dân chủ)
30- Trăm họ khổ về tai nạn đánh nhau
31- Khí giới đánh nhau càng mạnh liệt
32- Bị quân địch cướp khóc than về ức hiếp
33- Ma vương giết tướng quỷ
34- Hoàng thiên hại ma vương
35- Trời đất che đậy không đoán được
36- Trên núi kết nghĩa, quân tướng tranh ngôi nhau (Đoàn viên là kết nghĩa vườn đào của bái công, Quan công và Trương phi). Đây nói tình đồng chí của đảng cộng sản bị tan vỡ
37- Cơ trời định chưa xong
38- Nẻo Hoàng Sơn chia ra năm bè bảy mối (nẻo Hoàng sơn là nói về HCM) tức đảng cộng sản hoàn toàn bị tê liệt (Tinh thần ý chí liệt, tài đức liệt, niềm tin liệt), (Ngũ phân) là nói đảng cộng sản chia ra nhiều phe phái.
39- (Ta Hồ là Hồ ta) ý nói đảng cộng sản không có chủ như nước không có Vua, nhà không có nóc. Đảng cộng sản tan tác trên bảo dưới không nghe.
40- Ý nói đảng cộng sản tan tác, tranh nhau giết nhau; dân chỉ sống biết mình mà thôi
41- Năm sửu thì Vua ra (có thể năm 2009)
44- Tướng mạnh nhiều như bể, mưu hay lắm như rừng (*)
45- Ông Trần Chính thức là người lòng đầy phúc đức
46- Nhiều nhân sỹ ra nước ngoài học hỏi
47- Tướng giỏi đi rồi lại về giúp nước
48- Nhà Đường nhà Chu quyền hành (Nhà Đường nhà Chu là các thời thịnh trị ở bên Trung Quốc ý nói ông Trần Kha ra nắm quyền thì đất nước thịnh trị thật sự)
49- Khắp cả thiên hạ thái bình
50- Không đâu còn đánh nhau, nam thành được độc lập
51- Phương bắc khởi binh khắp nơi
52- Xuất quân đánh phá thành đông
53- Vua ở sông Bảo Giang ra mặt
54- Không cần đánh nhau mà cũng thành nghiệp (Nghĩa là khi quân ông Lý Đông A đi đến đâu thì quân đội đảng cộng sản đầu hàng và theo đến đấy)
55- Khắc Dũng bên tàu giao cho con ba cái tên để làm ba việc lớn.
56- Ở tỉnh Thanh Hoá là chỗ phát nhà Nguyễn
57- (Non xanh) là nước Việt Nam; Trắng răng là chỉ người phương tây chắc đây chỉ nước Mỹ.
58- Như đời nhà Tần bạo ngược đến cực điểm rồi cũng phải mất về tay ông bái công (Hán Cao Tổ)
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh (Hồ Chí Minh) ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã nhầm lẫn nên cuối cùng lại có ông thánh là Lý Đông A ra đời và đồng thời sấm cũng nói những người cộng sản như lũ thằng hề rất bạo ngược.
59- Chứng tỏ đảng cộng sản có một nhóm ngoan cố đến cùng, nhưng vì thời thế mà phải mất về tay ông Lý Đông A.

Bia đổ:
Mộ cụ Trạng Trình có chôn bia một hôm dân làng thấy bia ở mộ cụ đổ, xem bia thấy có mấy câu:

“Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Phải đền tam quán”

Bố con tên Khả chỉ có nghề đào chuột để sinh nhai. Hôm đó ra đào chuột ở mộ cụ, đánh đổ bia, dân làng bắt đền quan tám. thế mới hiểu (tam quán) là quan tám.

Bia cổ am
Khi làng Cổ Am bị bom tàn phá trong nhà thờ cụ Trạng Trình có thấy một cái bia, có hai câu dưới đây.

“Giữa năm hay hai bẩy mười ba
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây”

Chú thích:

Năm ấy nhuần hai tháng bảy ông bát kê (Pierre Pasquier) làm chức toàn quyền đi máy bay về Pháp bị cháy. Do thế mới biết tám gà đốt ở trên mây thì tám gà là bát kê, dịch âm ngữ (pasquier) .

Thơ rằng :     Kia cơn gió thổi lá rung cây
Rung bắc, rung nam, đông với tây
1- Tan tác kiến kiều an đất nước
2- Xác xơ cổ thụ sạch am mây
3- Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
4- Hưng địa tràn dâng hoá nước đầy
5- Một ngựa một yên ai sùng bái
6- Nhắn con nhà Vĩnh Bảo cho hay

Chú thích:
1- Quốc quân đánh tỉnh kiến an
2- Làng cổ Am bị ném bom hồi ấy là năm 1930
3- Lâm thao phủ bị quốc quân đánh
4- Hưng hoá tỉnh cũng bị Quốc quân nổi dậy đánh
5- Tỉnh yên bái bị quốc quân đánh rối loạn
6- Ông Hoàng Gia Mô làm tri huyện ở Vĩnh bảo bị quốc quân giết chết năm 1931

Ngoài cuốn sấm tôi còn biết câu cảo của Tàu nói về Hồ Chí Minh như sau:

Nhất kiếm, nhất mã
Anh hùng trong thiên hạ nhất thời

(ý nói sự nghiệp HCM chỉ được một thời là hết). Rất đúng

 Lời kết Cuốn sấm trước đấy thì các nhà nho thường ai cũng có. Nhưng nay thì đã bị cộng sản đốt hầu hết vậy tôi xin dịch và chú thích những đoạn có liên quan đến thời thế bấy giờ để mọi người đọc biết và tự thức tỉnh và cũng như khuyên bảo cho người thân tỉnh thức vậy.

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2006

Phạm Hồng Đức
Nghệ An , VN

 Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên đoán

Lịch sử khoa cử Việt Namcó hàng chục trạng nguyên, nhưng ít có ông trạng nào mà tên tuổi lại được nhắc tới với nhiều giai thoại kỳ bí như Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585). Là một nhà thơ lớn của dân tộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đề cao tư tưởng nhân nghĩa, hòa bình. Chính ông là người đầu tiên nhắc tới hai chữ Việt Nam trong các tác phẩm của mình. Là một người thầy lớn, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đào tạo nhiều nhân tài cho đất nước. Học trò của ông, người theo nhà Mạc, người theo nhà Lê. Ngoài triều Mạc, cả họ Trịnh, họ Nguyễn, những người thuộc các phe đối lập, cũng đều tôn kính ông, thường xin ý kiến ông về nhiều vấn đề hệ trọng. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chỉ cho tất cả. Họ đều thấy sự chỉ dẫn của ông là đúng, nên ông được xem như bậc đại hiền, một ông trạng tiên tri…

Những lời khuyên làm nên sự nghiệp

Năm 1568, khi Nguyễn Hoàng thấy anh ruột là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm (anh rể) giết, bèn sai người đến xin ý kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm, lúc này đã 77 tuổi, đang sống ẩn dật ở Am Bạch Vân. Không trả lời trực tiếp, ông dẫn sứ giả ra hòn non bộ, chỉ vào đàn kiến đang bò và nói:

“Hoành sơn nhất đái, khả dĩ dung thân”
(Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được)

Hiểu được ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị gái xin với anh rể Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào, từ đó lập ra nhà Nguyễn ở phương nam. Về sau sử nhà Nguyễn sửa thành “vạn đại dung thân”, hy vọng sẽ giữ được cơ nghiệp mãi mãi.

Ở Thăng Long, Trịnh Kiểm cũng muốn bỏ Vua Lê để tự xưng vương. Khi cho người đến hỏi ý kiến của Nguyễn Bỉnh Khiêm, ông không trả lời mà dẫn sứ giả ra chùa, thắp hương mà nói: “Mấy năm nay mất mùa, nên tìm thóc giống cũ mà gieo”. Rồi lại bảo chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ và nói: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”. Hiểu ý, Trịnh Kiểm không dám phế bỏ nhà Lê mà phò Vua Lê để lập nghiệp Chúa.

Phùng Khắc Khoan đến gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm, với ý muốn nhờ thầy cho một lời khuyên: Có nên bỏ nhà Mạc để vào Thanh Hóa với triều đình Lê – Trịnh? Cả buổi chiều trò chuyện, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ hỏi tình hình, nói chuyện văn chương chứ không trả lời. Đêm ấy Phùng Khắc Khoan ngủ lại tại nhà thầy. Sang canh tư, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến phòng ngủ của học trò, đứng ngoài gõ cửa và nói vọng vào:

“Gà đã gáy rồi, trời đã sáng, sao không dậy, ngủ mãi ử”

Phùng Khắc Khoan nghe xong, suy nghĩ, và đoán rằng thầy gián tiếp bảo thời cơ đã đến, có thể vào giúp nhà Lê. Ông vội vàng thu xếp hành lý, đợi đến lúc mặt trời mọc thì vào giã từ thầy. Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn không nói gì, chỉ cuốn một chiếc chiếu ngắn ném theo. Phùng Khắc Khoan nhặt lấy chiếu, vừa đi vừa nghĩ:

“Phải chăng đây là ý dặn mình cần hành động gấp và dứt điểm như cuốn chiếủ”

Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm gần mất, nhà Mạc cho người đến hỏi ông về kế lâu dài. Ông đáp: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế” (Đất Cao Bằng tuy nhỏ nhưng dựa vào đó có thể kéo dài được vài đời). Sau quả đúng như vậy.

Những lời sấm cho nhiều đời sau

Dân gian lưu truyền nhiều bản Sấm ký được cho là của ông. Hiện nay ở kho sách Viện nghiên cứu Hán – Nôm còn giữ được bốn bản. Tuy nhiên các bản này đều không có tên người chép, chép từ bao giờ và chép ở đâu? Do vậy, chúng ta cần phải làm rõ vấn đề đâu là khả năng dự báo xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm do kiến thức và kinh nghiệm đã đem lại, đâu là những điều mà người đời đã gán ghép cho ông? Mặc dù là “tồn nghi” nhưng chúng tôi cũng xin trích ra để bạn đọc cùng khảo cứu.

Truyện kể lại rằng, trước khi qua đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại một phong thư, đặt trong một ống quyển gắn kín, dặn con cháu sau này nếu làm ăn sa sút, mang thư ấy đến gặp quan sở tại thì sẽ được cứu giúp. Đến đời thứ bảy, người cháu thứ bảy là Thời Đương nghèo khốn quá, nhớ lời truyền lại, đem phong thư đến gặp quan sở tại. Quan lúc này đang nằm võng đọc sách, nghe gia nhân báo có thư của cụ Trạng Trình thì lấy làm lạ, lật đật chạy ra đón thư. Vừa ra khỏi nhà thì cái xà rơi xuống đúng chỗ võng đang nằm. Quan sợ hãi vội mở thư ra xem thì chỉ có mấy chữ:

“Ngã cứu nhĩ thượng lương chi ách
Nhĩ cứu ngã thất thế chi tôn
(Ta cứu ngươi thoát khỏi ách xà rơi
Ngươi nên cứu cháu bảy đời của ta)

Quan vừa kinh ngạc, vừa cảm phục, bèn giúp đỡ cháu bảy đời của Trạng hết sức tử tế.

Đến đời Vua Minh Mệnh (1820 – 1840) trong dân gian lưu truyền một câu sấm: “Gia Long nhị đại, Vĩnh Lại vi Vương” (đời thứ hai Gia Long, người ở Vĩnh Lại làm vua). Vua Minh Mệnh vốn tính đa nghi. Biết được mấy câu sấm ấy, nhà vua vừa có ý đề phòng, vừa căm giận Trạng Trình. Tổng đốc Hải Dương lúc bấy giờ là Nguyễn Công Trứ được lệnh đến phá đền thờ Trạng Trình.

Nguyễn Công Trứ cho lính đến, cứ y lệnh triều đình cho đập tường, dỡ nóc. Nhưng khi tháo cây thượng lương ra thì một cái hộp nhỏ đã để sẵn trong tấm gỗ, rơi xuống. Quân lính nhặt đưa trình chủ tướng, Nguyễn Công Trứ mở xem, trong đó có một mảnh giấy đề chữ:

“Minh Mệnh thập tứ
Thằng Trứ phá đền
Phá đền thì lại làm đền
Nào ai cướp nước tranh quyền gì ai”.

Nguyễn Công Trứ vội ra lệnh dừng ngay việc phá đền, khẩn cấp tâu về triều đình, xin làm lại đền thờ Trạng Trình.

Ở một tập sấm mở đầu có các câu:

“Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đạt mấy ai rõ ràng
Bãi ngọc đất nổi, âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn…”

Có người cho rằng những lời thơ ấy đã khẳng định đất nước có nhiều người tài giỏi, cùng với nhân dân giữ vững đất nước qua biết bao nguy biến. Đất nước cũng có nhiều tài nguyên phong phú cần được khai thác. Đảo Sơn phải chăng là Vũng Tàu – Côn Đảo? Nơi có tiềm năng về dầu khí và có vị trí kinh tế chiến lược? Những lời sấm ấy cũng khẳng định phải có khoa học – kỹ thuật (học cách vật) mới có thể khai thác tốt và sử dụng tốt những tài nguyên đó, những âu vàng trời cho.
Tập sấm còn đề cập tới một bậc Thánh giúp đời:

“Một đời có một tôi ngoan,
Giúp chung nhà nước dân an thái bình
Ấy điềm sinh Thánh rành rành chẳng nghi”

[...]

Trong tập sấm cũng ghi một lời rất đặc biệt:

“Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ diên trường ức vạn xuân”
(Đất nước Hồng Lam này sau ta 500 năm
sẽ là một thời kỳ hưng thịnh vạn mùa xuân)

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585, thọ 94 tuổi. Ba trăm năm sau, trong bộ sách lớn “Lịch triều hiến chương loại chí”, nhà văn hóa Phan Huy Chú đã coi Nguyễn Bỉnh Khiêm là “Một bậc kỳ tài, hiển danh muôn thuở”.

Trường Sơn

Thánh Nhân trong Sấm trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Thánh Nhân trong Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm được tranh luận và phân tích rất nhiều trong chủ đề “ Thời nay đoạn kết của Sấm Trạng ? ”
Thiên sinh thiên tử ư hỏa thôn
Nếu buổi tối đứng trên cao, ví dụ đứng trên một cao ốc, ngọn đồi, hay núi, nhìn xuống các thôn làng thành phố thì sẽ thấy ánh lửa, hoặc ánh đèn dưới chân núi rực sáng một vùng, đưa đến cái ý “hỏa thôn”, ngụ ý là “lửa dưới núi”!
Tức Thánh Nhân sinh vào nămĐinh Dậu, Mệnh: Sơn Hạ Hỏa
“…Ở đây, lại có thêm một trùng hợp quan trọng nữa cho Kim Kê (đã được phân tích trong các bài trước): nếu Thánh Tản hóa thân vào Kim Kê Đinh Dậu (1957), thì ngài sẽ được đúng 70 tuổi vào năm Bính Ngọ của 2026, ứng với câu Sấm:
“Bạch Hổ kim đái ấn
Thất thập cổ lai xuân”
”.
Còn câu :
“Hỏa thôn đa khuyển phệ
Mục dã dục nhân canh”
Dịch là:
“Chó sủa vang thôn hỏa
Giục dã người ra đồng làm việc”

Theo tôi Thánh Nhân được sinh vào giờ Tuất chứ không phải như mọi người vẫn dự đoán là giờ Dần hay Mão….
Còn câu :
“377 – Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Ý nghĩa: khi sinh ra cha mẹ đã cách trở (tức kẻ còn người mất) ” .
Theo tôi lời dịch nghĩa câu trên là không đúng mà câu này chỉ nói lên vị Thánh Nhân ra đời khi đất Việt bị chia cắt thành 2 miền đau thương.
Năm 2010 là năm kỷ niệm 1000 năm của Kinh Đô Thăng Long văn hiến và theo Sấm Trạng Trình thì năm 2010 Thánh Nhân sẽ xuất hiện. Do vậy tôi tạm đưa một ứng cử viên có tứ trụ như sau vàhy vọng mọi người thử luận xem tứ trụ này có khả năng là của vị Thánh Nhân này không:
Nam mệnh : Đinh Dậu – Mậu Thân – ngày Tân Tị – Mậu Tuất
Tứ trụ này tôi đã đưa ra trong chủ đề Uyên Hải Tử Bình – Thiệu Vĩ Hoa trong mục Tử Bình bên tuvilyso.net khoảng năm 2007 nhờ nick linglingling dự đoán giúp về quan vận cũng như cho biết người này đã thoát chết vào năm nào (thuộc đại vận Giáp Thìn từ 1997 đến 2007).
Mọi thông tin về người này tôi biết rất rõ, tạm thời chỉ bật mí là nếu không có vài ba vị thủ tướng của một vài nước giúp đỡ thì năm đó người này không thể thoát chết được.
Tôi hy vọng mọi người dự đoán về quan vận của người này và cho biết hạn đã xẩy ra vào năm nào và về cái gì (bệnh tật, tai nạn ….). Và tôi cũng hy vọng cao thủ LongQuangNguyen sẽ tham gia và sẽ lại đoán đúng như đã đoán về tai họa qua chủ đề của Longtaithien về CHÚ THY của cô ta bên tuvilyso.net vừa qua.

Trong mệnh Nhật chủ cực vượng mà Ấn tinh nhiều, vậy ta lấy Tài làm Dụng, nhưng trong 4T lại không có tài tinh thôi đành lấy Bính hỏa chính Quan và Đinh hỏa Thiên Quan làm dụng vậy.
Người này xuất thân trong một gia đình khá giả, là một người có tài, học hành đỗ đạt cao, có uy quyền, phong độ, có thể là lãnh đạo một vùng nào đó.
Đây là đoạn thơ nói về vị Thiên tử bằng chữ Hán nôm:
“Dục thức Thánh nhân xứ
Đa xuất ứng Bảo giang
Dục thức Thánh nhân hương
Thủy lam bảo trung tàng
Dục thức Thánh nhân tính
Mộc hạ liên đinh khẩu
Dục thức Thánh nhân diện
Tu tầm chương trích cú
Giang nam nhị thủy huyện
Tại sơn vô hổ lang
Thất thập nhị hiền tướng
Phụ tá Thánh quân vương
Phá điền thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành”
Và một đoạn khác, nhưng đã thất lạc mất những câu đầu, chỉ còn ba câu cuối:
“…………………….
…………………….
Tư tâm dục thức thánh nhân diện
Lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối
Thủ túc chánh vương tam lương tự”
Chúng ta sẽ thảo luận về vị Thánh quân này trong những bài tới. Nhưng đầu tiên chúng ta để ý đến câu sau:
“Dục thức Thánh nhân diện
Tu tầm chương trích cú”
Cụ Trạng đã chỉ ra rằng để nhận diện vị Thánh quân thì “tầm chương trích cú”. Nghĩa là hãy tìm những đoạn trong bài Sấm có liên quan đến vị Quân vương và ghép lại với nhau
Một trong những đặc điểm của đức Thánh quân được cụ Trạng nêu ra:
“Tư tâm dục thức thánh nhân diện
Lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối
Thủ túc chánh vương tam lương tự”
Tôi cố tìm mà chưa hiểu rõ lắm câu: “lưỡng biên bàn ngạt tùy nhất khối”. Hai bên “bàn ngạt” cùng một khối là sao? Có lẽ cần một ai giỏi Hán nôm giải thích giúp. Nhưng câu cuối thì khá rõ là trong lòng bàn tay “thủ túc” có chữ “vương ” (“tam lương tự” là chữ Vương). Vậy chắc trong bàn tay của Thánh quân có các văn tạo thành chữ “Vương” với ba vạch ngang và một vạch sổ ở giữa. Và câu “lưỡng biên bàn ngạt tủy nhất khối” có lẽ chỉ ra rằng chữ “Vương” có cả ở hai bàn tay
Đây là một đặc điểm để nhận diện ra vị Thánh quân.
Trong phần dịch ra chữ quốc ngữ có câu:
“Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương” có lẽ xuất phát từ đoạn Hán nôm này và dùng chữ “Thủ” là “đầu”. Trên đầu hay trên mặt mà hiện ra các nét có chữ “Vương” kể ra rất khó.
Tiêp nữa:
“Dục thức Thánh nhân tính
Mộc hạ liên đinh khẩu”
“tính” ở đây là tính danh, nghĩa là tên của “Thánh nhân”. “Mộc hạ liên đinh khẩu” là trong tên của Thánh nhân có chữ Mộc ở phía dưới và phát âm có vần “inh” (đinh). Chữ “”khẩu” có nghĩa là “cái mồm”, nhưng cũng có nghĩa là “phát âm”.
Chúng ta cùng phân tích về địa danh “Bảo giang” trong câu:
“Bảo giang thiên tử xuất
Bất chiến tự nhiên thành”
Chữ “Bảo” tiếng Hán nôm nghĩa là “châu báu”
Có người cho rằng “bảo giang” là sông cửu long trong Nam. Nhưng cụ Trạng đã có câu khác
“Quá kiều cư Bắc phương”
Vậy thì dòng sông này phải ở phía Bắc, không phải là sông Cửu long
Lại tiếp:
“Thần châu thu cả mọi phương vẹn toàn”
có chữ “thần châu”
Tiếp nữa”
“Việt nam hữu Ngưu tinh” “Ngưu tinh” là “thần Trâu”, vẫn là chữ “châu” được nói lái.
Rồi khi tôi mua cuốn “Tích hợp đa văn hóa Đông Tây” của GS Nguyễn Hoàng Phương, ông có nhắc đến một người là nữ thiền tu có danh với ba chữ cuối là “Trúc Lâm Nương” (tôi không nhớ đầy đủ danh của bà, ai có cuốn sách chắc sẽ nói chính xác hơn). Bà có một am thiền ở quận Bình Thạnh, SG. Tôi đến gặp bà năm 1996, lúc đó bà đã hơn 90 tuổi nhưng trông vẫn rất mạnh khỏe. Bà thiền theo cách nhịn ăn rất lâu (tôi nhớ không chính xác hình như là 27 ngày, chỉ ăn có 3 ngày trong tháng, 27 ngày kia bà chỉ uống nước lã). Bà có bài thơ thiền về dòng Bảo giang như sau:
“Đố ai biết được Bảo giang môn?
Là nơi Thánh chúa, Thiên tôn định phần
Xuất giang môn, hóa giang môn
Ly nơi đông thổ xoay vần tây phương”
Khi gặp bà tôi có hỏi về bài thơ thì bà cho biết đó là thơ thiền, bà nhận được trong lúc thiền và chép lại, còn ý nghĩa thì bà không giải thích được. Chúng ta thấy với mấy câu thơ thiền này thì dòng Bảo giang “xuất giang môn, hóa giang môn” là một dòng sông nhánh, bắt nguồn (xuất) từ một con sông và đổ ra (hóa) con sông khác và dòng chảy từ Đông sang Tây, khác hẳn với các dòng sông chính ở Việt nam là luôn chảy từ Tây sang Đông.
Nếu xét theo địa lý thì chính dòng chảy ngược này cũng là một đặc điểm đem lại linh khí cho vùng đất nơi dòng sông chảy qua. Điều này chắc anh Dienbahn rất rõ khi nghiên cứu về địa lý nói về dòng sông uốn vòng ngược lại giữ khí.
Tất cả những điều trên chỉ sáng tỏ khi trong một lần đi du lịch tôi gặp một dòng sông trong tên có chữ “Châu” và quả thật dòng sông rất đẹp, nước trong vắt và chảy hiền hòa từ Tây sang Đông, bắt nguồn từ một dòng sông lớn, đổ ra một dòng sông lớn khác. Hai bên bờ sông được trồng đầy tre. Trước kia chim về đậu rất nhiều hai bên bờ và dân đi săn chim hay thuê thuyền đi dọc sông để bắn. Điều lạ là dòng sông này có hai nhánh xuất phát rất xa nhau và chỉ gặp nhau ở chỗ gần cuối lúc đõ ra dòng sông lớn thứ hai, ứng với câu:
“Giang nam nhị thủy huyện”
Dòng sông này ở phía Nam của Hà nội. Sẽ có người chỉ ra chính xác dòng sông đó có tên đầy đủ là gì và ở đâu cho mọi người.
Ba nét trên mặt mà anh nói là chính xác, nhưng nét sổ dọc thì có lẽ là không. Xem tất cả các sách tướng đều nói về 3 nét này. Minh Co không nhớ chính xác tên Hán nôm của 3 nét đó mà chỉ nhớ đến ý nghĩa: nếu 3 nét đó bằng và đều nhau thì cực quý, nếu 3 nét đó mà lại hướng lên trên ở hai bên trán thì càng quý nữa. 3 nét này tượng trưng cho Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa. Tuy nhiên nếu có đường xẻ cắt ngang lại làm cho tướng trở thành rất xấu. Đó là theo sách tướng.
Chỉ nói riêng về tướng trán thôi thì những đường xẻ dọc đi qua khu vực đó đều làm mất tính tốt của tướng. Ở đó có duy nhất một cái có thể như anh nói, đó là xuất hiện một gồ xương nổi lên từ mũi và đi lên đến đỉnh đầu. Đó là tướng của người cực kỳ thông minh. Xương này nhiều chỗ nói đó là nét “thông thiên”. Có thể nó kết hợp với 3 nét trên trán để tạo thành chữ “Vương”
Còn về danh tính thì Minh Co cũng đã có lần ghép chữ. Nhưng sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần thì mới tìm ra ý nghĩa của “liên đinh khẩu”. Trong bài Sấm, cụ Trạng đã có những lần nói rõ tên vị Thánh quân ra rồi.
Anh cũng có thể tìm thấy bằng cách ghép hai câu thơ sau với nhau:
“Song thiên nhật rạng sáng soi
và:
“Song thiên nguyệt rạng sáng soi”
Tại sao cụ lại dùng chữ “song thiên” ở đây?
Theo Minh Co, cụ Trạng nhắc rất khéo đến 3 nhân vật mà không phải hai. Hai nhân vật là “Song thiên”, còn nhân vật thứ 3 là “Bạch sỹ”. “Bạch sỹ” là một trung thần rất giỏi giống như Nguyễn Trãi. Chúng ta có thể nhận ra bởi câu:
“Mỗi đời có một tôi ngoan
Giúp cho việc nước dân an thái bình”
Tôi nghĩ hai đoạn phim sau quay về việc gọi hồn vị lãnh tụ của chúng ta cũng giúp ích cho việc hiểu Sấm Trạng rất nhiều. Có đoạn cụ nói về địa lý của Việt nam. Điểm đặc biệt được cụ nhắc tới mấy địa danh: hồ Gươm, hồ Tây, Vĩnh Phú (nơi vua Hùng). Cái này cũng trùng với câu Sấm:
“Bãi ngọc đất nổi, âu vàng trời cho”
Có điều hơi buồn khi nghe đoạn video cụ nói:
“Phần âm có ổn, thì phần dương mới yên”
Thế mà trước kia chúng ta đã phá đi bao nhiêu đền đình miếu mạo.
Đoạn phim được làm từ năm 2002. Xuất hiện ra bên ngoài cuối năm 2007 và theo tôi biết thì có đĩa CD lưu hành bên ngoài.
Có những điều trong đĩa được cụ nói, tôi sẽ phân tích kỹ sau cùng với Sấm Trạng, cũng như những đoạn Sấm về cụ.
Không hiểu sao muốn embed vào mà không được.
Lưu ý:

1. đoạn video được quay tại khu du lịch K9, Tam Đảo
2. Trong video có đoạn bị xóa màn xanh lè. Đoạn này chắc chắn liên quan đến vấn đề nhạy cảm khi cụ nói đến “8 câu” ở phía trước và “các vua Hùng sống một nơi, đền thờ ở một nơi”. Đoạn này đã bị những người đem phim ra lưu hành xóa đi. Tuy nhiên tôi có thể đoán được nội dung bên trong thông qua “8 câu” và “vua Hùng”.
Cụ là một người rất giỏi về huyền thuật. Đến quê cụ mới biết được là gia đình cụ có truyền thống về huyền thuật.
Có hai câu Sấm được rất nhiều người phân tích nhưng chưa thấy có gì sáng sủa cả:
“Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh Thiên tử Bảo giang môn”
Có người nói rằng Thiên tử không phải là con trưởng trong gia đình vì là “hậu sinh”, cha mẹ đã “cách trở” từ người anh trước “tiền sinh”. Giải thích thế này có chỗ hơi vô lý là nếu cha mẹ đã cách trở từ “tiền” rồi thì làm sao mà có thể tạo ra được “hậu”. Có thể giải thích rằng người mẹ có mang rồi thì cha mẹ mới cách trở nhưng như vậy không hợp với câu Sấm lắm.
Nếu chúng ta nhớ tới những câu “bậc tiền nhân” và “kẻ hậu sinh” thì có lẽ có cách giải thích khác chính xác hơn. “Tiền” ở đây là thế hệ trước, chỉ thế hệ người cha, còn “hậu” là thế hệ sau, chỉ thế hệ của “thiên tử”.
Tôi phân tích một chút về tuổi của vị Thiên tử. Tôi đưa vào đây những nhận định của mình và nhờ những ai giỏi về tử vi phân tích thêm, Mọi người để ý đến các từ được bôi đậm trong các câu thơ sau (tầm chương trích cú):
“115 – Nói cho hay khảm cung rồng đấy
116 – Chí anh hùng xem lấy mới ngoan
117 – Chữ rằng lục thất nguyệt gian
118 – Ai mà nghĩ được mới gan anh tài”
“269 – Năm giáp tý vẻ khuê đã rạng
270 – Lộ ngủ tinh trinh tượng thái hanh
271 – Ân trên vũ thí vân hành
272 – Kẻ thơ ký túy kẻ canh xuân đài”
“283 – Quyển vàng mở thấy sấm  trời
284 – Từ đinh đổi đời chí lục thất gian
“337 – Ý ra lục thất gian nay
338 – Thời vận đã định thời nầy hưng vương”
“351 – Chính cung phương khảm vần mây
352 – Thức thay thiên tử là nay trị đời”
Một số từ liên quan:
“Gian” từ Hán Nôm là ở giữa, là ở trong. “Lục thất gian” là giữa 67
“Nguyệt” là mặt trăng, cũng có nghĩa là âm lịch, còn có nghĩa là tháng âm lịch. “Nguyệt gian” là giữa tháng âm
“Khảm cung” là “cung Thủy” trong tử vi
“trinh tượng thái hanh” là thi cử đỗ đạt.
“Giáp tý”: những năm sau đây là năm giáp tý: 1924, 1984, 2044 trong giai đoạn hiện nay (khoảng 500 năm sau đời đức Trạng). Nếu để ý với chữ “lục thất gian” thì năm 1984 là năm được đề cập. Hãy nhớ lại tuổi tốt nghiệp phổ thông của trẻ em Việt nam.
Tôi phân tích xa hơn thêm về một khía cạnh nữa của từ “Phá Điền“. Xưa nay chúng ta vẫn hay nói “Phá hoang”, có nghĩa là mở mang thêm đất canh tác. Từ “Phá Điền” ở đây chắc được cụ trạng dùng với ý nghĩa của từ “Phá” giống như trong từ “Phá hoang”, vì có câu:
“Thần châu thu cả mọi phương vẹn toàn”
Có một câu chuyện về tên Việt nam lưu truyền trong dân gian như sau: tôi không nhớ kỹ đời vua nào đã sang TQ xin được phong vương và muốn lấy tên nước là nước Việt. Vua Tàu không đồng ý vì tên Việt xưa kia chỉ một vùng rất rộng lớn. Nước Việt hiện nay là một phần phía Nam của nước Việt đó. Ông ta yêu cầu dùng tên là Nam Việt, tức là nước Việt ở phương Nam. Sứ ta sau đó làm thế nào đó đề nghị được dùng tên là Việt nam và được đồng ý.
Hãy để ý đến sự thông tuệ trong cách dùng từ của sứ ta. Nam Việt chỉ là một vùng phía nam của nước Việt xưa. Còn Việt nam là chỉ vùng đất người Việt đang sống ở phương Nam. Sự khác nhau là một chỉ vùng đất theo gianh giới, một chỉ vùng đất nơi ngụ cư (không liên quan gì đến gianh giới).
Đây cũng là vấn đề liên quan đến phần bị xóa trong video về việc gọi hồn vị lãnh tụ của chúng ta. Chúng ta có thể hiểu về đoạn đó với câu nói của cụ ngay sau đoạn bị xóa:
“Các vua Hùng sống một nơi, đền thờ ở một nơi”
Tôi thấy có nhiều người qua sự kiện Hoàng Sa phê phán cụ là người “bán nước” theo một văn bản nào đó thời chiến tranh. Mong sao những người đó xem đoạn video và hiểu được điều này để biết rằng mình hiểu lầm.
Chúng ta cùng tìm hiểu tiếp về quê hương của vị Thiên tử kia, nơi có dòng Bảo giang:
“426 – Bắc hữu kim thành tráng
427 – Nam tạc ngọc bích thành”
Từ “Thành” ở đây rõ ý nói về các kinh thành của Việt nam. Phía bắc có “kim thành tráng”. Chúng ta có kinh đô được gọi là “Hoàng Thành”. Từ “Hoàng” nghĩa là vàng, vàng đồng thời cũng là một loại “Kim”. Phía Nam có “ngọc bích thành”. Thành phía Nam này được cụ Trạng dùng với từ “tạc”, “tạc” có nghĩa là khắc nghĩa giống như trong câu “tạc tượng”. Vậy có thể hiểu thành này nằm trên núi. Thành “tạc” vào núi thì đúng, vì không lẽ thành tạc vào đất. Chúng ta có một kinh thành gắn liền với chữ “Bích”, một vùng đất đẹp, đó là Bích động. “Bích” còn hàm nghĩa là “đẹp”
Lại có câu:
“365 – Ở xa thấy một con voi
366 – Cúi đầu quen bụi trông hồ sâu”
Trong ảnh đi kèm là hình ảnh về chỗ có con voi đó. Nó nằm trong một địa danh gọi là “hồ truyền thống”. Con voi này mới xuất hiện trong thời kỳ “chống Mỹ”.
Và cuối cùng đó là thiên cơ với cái tên của vùng đất. Ai tìm được chỗ con voi, hãy đến thăm và để ý đến tên của vùng đất.
Bốn câu Sấm:
“410 – Cửu cửu kiền khôn dĩ định
411 – Thanh minh thời tiết hoa tàn
412 – Trực đáo dương đầu mã vĩ
413 – Hồ binh bát vạn nhập tràng an”
Nhiều người cho rằng đoạn này chỉ về sự ra đi của quân Pháp với giải thích là “cửu cửu” là “81” năm Pháp đô hộ Việt nam. Giải thích này không chính xác vì Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt nam vào năm 1958 và dành quyền đô hộ hoàn toàn Việt nam vào năm 1864. Pháp rút khỏi Việt nam năm 1954, sau chiến thắng Điện biên phủ. Vậy thời gian Pháp chiếm đóng Việt nam ít nhất là 90 năm nếu tính từ năm 1964.
Hơn nữa trong câu thơ không hề có từ nào liên quan đến Pháp, chỉ có từ “Hồ binh” liên quan đến “bộ đội cụ Hồ”
Chúng ta cùng xem lại hai chữ “cửu”. Chữ “cửu” thứ nhất nghĩa là “9”, chữ cửu thứ 2 nghĩa là “trường” (dài). Chúng ta có công cuộc “trường kỳ kháng chiến chống Pháp”. Bản tuyên ngôn độc lập của chúng ta mới được cụ Hồ đọc chưa được bao lâu thì Pháp đã quay lại. Chúng ta đã phải bước vào một thời kỳ “trường kỳ kháng chiến” từ cuối năm 1945 đến chiến thắng điện biên phủ đầu năm 1954. Thời gian đó là 9 năm. Đó là ý nghĩa của chữ “cửu cửu”
Ý nghĩa của 4 câu Sấm là sau 9 năm trường kỳ kháng chiến thì bộ đội cụ Hồ quay lại tiếp quản Hà nội (tràng an, không phải trường an như một số nơi đưa ra, tràng an là một trong những tên thời xưa của Hà nội). “Trực đáo” là thẳng đến”, bản Sấm ở trong diễn đàn là “chức đáo” không chính xác. Từ “đáo” ở đây còn có nghĩa là “quay lại” tức “tám vạn bộ đội quay lại Tràng an”.
Chúng ta sẽ tiếp tục với những câu Sấm cho những sự việc sắp xảy ra:
“Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm”
“Canh niên tân phá
Tuất hợi phục sinh
Nhị ngũ dư bình”

“Lưu tinh” theo cách gọi của người xưa để chỉ thiên thạch (sao băng). Điều này được chỉ rõ trong “Binh thư yếu lược” của cụ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn”
“27.- PHÉP BÍ MẬT XEM SAO BĂNG :
Sao băng là sứ giả của Trời, từ trên rơi xuống gọi là lưu-tinh, từ dưới chạy lên gọi là phi-tinh, sao lớn gọi là bôn-tinh, tất cả cũng đều là lưu tinh cả.”
Và đây là những gì chúng ta có thể thấy trong năm 2008:
“Lưu tinh” này có thể là thiên thạch mang số hiệu HZ51 2006, được phát hiên năm 2006.
Trong binh thư cũng có đoạn sau:
“Tháng giữa xuân (tháng hai) sấm bèn phát, tháng giữa thu (tháng tám) sấm bèn ẩn, nếu nghịch thời sẽ có việc đao binh nổi lên.”
Ý nói rằng nếu thời tiết mà trái mùa xảy ra thì có nạn đao binh. Quan sát thời tiết Việt nam từ đầu năm đến nay: hai trận bão đã xuất hiện ở biển Đông. Mùa mưa bão là tháng 8, giờ đây bão lại xuất hiện vào tháng 3. Thêm nữa hiện bắc bộ đã bước sang tháng năm âm lịch mà vẫn có gió mùa đông bắc. Như vậy gọi là trái mùa.
Nếu quan sát bầu trời miền Bắc, chắc chắn là đang diễn ra cảnh “mây mù đủ năm”.
Năm 2008 là năm Mậu Tý. Vậy hai năm nữa là năm Canh Dần, ứng với câu “Canh niên tân phá”.
Lại cũng có câu Sấm:
“Canh tân sực nức mùi hèm
Nhâm quý bằng lặng ngoại đem binh vào
Giáp thời thấy rõ binh đao
Ất niên chiến họa xâm vào tràn lan”
Thật ra thì từ “Phá Điền” được cụ Trạng dùng để chỉ ra nơi mà vị Thiên tử sẽ xuất quân, giống như vùng Tây sơn của vua Quang Trung vậy. Bạn bỏ cách ghép chữ Hán đi, mà ghép lại từ bằng chữ Nôm sao cho tìm ra tên một dòng sông. Dùng nghĩa của chữ Hán thì sẽ tìm được nơi mà vị Thiên tử sẽ xuất quân.
“Phá Điền thiên tử xuất”
sẽ được hiểu là:
“(từ nơi đó) thiên tử xuất”
Thiên cơ bất khả lậu, tôi không thể ghi rõ địa danh ra đây. Tuy nhiên trong bài Sấm có thêm hai chỗ nữa cụ Trạng nhắc đến địa danh này. Cụ Trạng đã dùng từ “Phá Điền” rất “đắt”.
Tôi sẽ phân tích về hai thuật ngữ khác được mọi người tranh luận khá sôi nổi: “Bạch sỹ” và “Nhân thập”. Mọi người cố ghép chữ Hán để tìm ra ý nghĩa, nhưng cụ Trạng lại dùng chữ Nôm. Cụ đã báo trước là cụ sẽ tái thế để giúp nước, giúp dân. Tìm hiểu về cụ và dùng cách đảo chữ trong tiếng Nôm thì sẽ hiểu điều này. Tôi mở ra trước một chút vậy: “Nhân thập” đảo chữ đi sẽ là “nhập thân”.
Tôi dịch cả 4 câu Sấm:
“Sau 9 năm trường (thì) trời đất (mới ) định như có sẵn
Vào tiết Thanh minh (tháng 3 âm lịch, tháng 4 dương)
Cuối năm Ngọ đầu năm Mùi (1954)
Tám vạn bộ đội cụ Hồ thẳng tiến quay lại Tràng an”
“dĩ định” là đã được “định sẵn”. Chúng ta tuyên bố độc lập vào năm 1945, nhưng thực sự thì chưa phải, cho đến năm 1954 mới thực sự là độc lập sau chiến thắng lẫy lừng Điện Biên Phủ.
“Kiền Khôn” hay “Càn Khôn” ở đây là “Trời Đất” (“Trời Càn, Đất Khôn” là câu trong Kinh Dịch)
Chúng ta cùng phân tích về việc cụ Trạng sẽ tái thế vào đời nay. Như bài trước đã nêu thì cụ sẽ “nhập thân” (nhân thập) vào một người đời nay. Đó có thể là một người họ Nguyễn qua câu cụ dặn vị Thiên tử “lục thất”:
“259 – Lục thất cho biết ngày dày
260 – Phụ nguyên ấy thực ở dầy tào khê
261 – Có thầy nhân thập đi về
262 – Tả phụ hữu trì cây cỏ làm binh”
Ở câu 262, chúng ta thấy là để cho “cây cỏ” trở thành “binh” được thì chỉ có các bậc thánh thần, thần tiên mà thôi. Qua đó thì chúng ta mới hiểu được từ “nhân thập” là “nhập thân”.
Muốn hiểu rõ điều này thì cần tìm hiểu các câu Sấm khác. Đầu tiên là câu nói về vị “Bạch sĩ”:
“135 – Bắc phương chính khí sinh ra
136 – Có ông Bạch sĩ điều hòa hôm mai”
“Bạch sĩ” chính là pháp danh của cụ Trạng. Và bản thân cụ đã có những câu chỉ về việc cụ sẽ giúp nước, giúp dân:
“295 – Tiếc thay hiền sĩ bao già
296 – Ước bằng Bành Tổ ắt là Thái Công
297 – Thử cho tay giúp ra dùng
298 – Tài này so cùng tài trước xem sao
299 – Trên trời kể chín tầng cao
300 – Tay nghe bằng một ti hào biết hay”
Rõ ràng trong các câu Sấm này cụ chỉ ra rằng cụ sẽ “thử cho tay giúp” để “so tài” với các bậc công thần nổi tiếng xưa, ở đây ám chỉ là Trương Tử Phòng và Khổng Minh, vì có câu:
“166 – Khen Tử Phòng cũng đấng Khổng Minh”

About these ads

14 Comments »

  1. 1
    Tuần Triệt Says:

    Cữu long giang, anh hùng xuất.
    Mỡ vận nước khai Dân chủ, tự do.(Dân tộc)

  2. 2
    751969 Says:

    bài bình luận của anh Tô oanh rất hay.tôi thấy có một vùng đất rất trùng hợp với sấm trạng,vùng đất này ở phía bắc gần trung quốc . Địa giới sĩ vĩ bạch (đuôi rồng bạch long vĩ)trên vùng bảo giang này có một cái hồ rộng trên cái hồ có một hòn đảo nhỏ khoảng 80 ha xung quanh núi đồi bao bọc,trùng trùng điệp.Có một con sông voi chảy đến,chia ra làm hai thành hình chữ bát ôm ấp hòn đảo này.Ở đây có một dòng sông chảy ngược sáng chảy từ tây bắc xang đông nam.chiều nại chảy từ đông nam xang tây bắc.Núi đá vây xung quanh.dòng bảo giang này có một cái cửa rất nổi tiếng.có tên từ ngàn năm nay nói đến là các vị thuyền chài biết ngay.hòn núi này có tên là đào tiềm.Bên cạnh hòn núi này có một ngôi chùa cũng rất nổi tiếng.muốn đến hòn núi này phải qua kiều cư bắc phương,đúng như trạng tả.trên hòn đảo này có một huyệt mộ ,thày địa lý gọi là hồi long cố tổ kim loan thái tử hồi triều,có một gia đình thuyền chài may mắn có được.năm 36 tuổi người đàn bà này sinh được một cập sinh thời.rất đẹp trai sinh năm 2006 bính tuất thông minh tuấn tú.ngay bây giờ đã thấy khác người.nơi gia đình này ở đúng là vùng bảo giang không người ở,cảnh đẹp như nơi thần tiên .cây cối quanh măm bốn mùa xanh tốt,xuất xứ gia đình này ở thủy nguyên cạnh sông bạch đằng,nay ở trên sông bảo giang có một cặp sinh thời song thiên nhật nguyệt,quả là trời cho

  3. 3
    Tuần Triệt Says:

    ( năm 1984 là năm được đề cập. Hãy nhớ lại tuổi tốt nghiệp phổ thông của trẻ em Việt nam. )

    Năm giáp tý vẻ khuê đã rạng : Thi đậu vào trường nào đó thì đúng hơn…Thi tốt nghiệp

  4. thánh nhân sinh ra ở huyện thủy nguyên làng của thánh ở giữa ,xung quanh là đồng lúa xanh bao la bát ngát,lơi thánh sinh ra có con sông bạch đằng giang bao bọc ôm ấp.Lớn lên thánh đi nhiều nơi ở nhiều chỗ,Sau cùng đến dòng bảo giang (đảo tiên )thì ứng nghiệm họ thánh là họ đinh vần đệm có thể khắc được vào gỗ.tên của thánh đã nói dõ trong sấm nơi thánh xuất là dòng bảo giang đảo tiên,ở đây linh khí ngút trời,các vì tinh tú địa linh đều tụ ở dong bảo giang này

  5. 6
    daicongminh Says:

    làm vua là để tri quan
    không được tri dân
    luật pháp sinh ra
    là để tri mọi người
    quan thì lợi dụng luật pháp
    để bóp hầu dân den
    dân chỉ còn biết kêu trời
    mà trời thì không thấu
    đất thì không hay
    làm vua là để trị quan
    đem lại công bằng cho dân
    có thế thì thiên hạ mới yên vui được.

  6. 7
    daicongminh Says:

    Tỉnh dậy nghe chim hót
    Sáng trên vùng Bảo Giang
    Mặt dương vàng soi nước
    Dòng giang ánh vàng lên
    Mây mờ xa dặng núi
    Mặt nước con thuyền trôi
    Ngọn núi xanh đảo nhỏ
    Mây trắng vờn bay quanh
    Làn gió thổi mong manh
    Hương rừng thơm nhè nhẹ
    Thấm đượm tình núi sông
    Bảo giang thưa người đến
    Đất lành mến người nhân

  7. 8
    daicongminh Says:

    trăng non vừa mới nhú
    soi xuống dòng bảo giang
    ánh vàng phơn phơn phớt trắng
    bảo giang mờ hơi sương
    đầu non che bóng dáng
    nửa dòng giang màu nam
    con chim rừng kêu vang
    nghe mang mang thanh vắng
    thiết tha gọi tình vương
    cuộc sống thật hiển nhiên
    lòng người ôi xao xuyến

  8. 9
    daicongminh Says:

    Hàng ngàn con suối tụ thành sông
    ngoằn nghèo chín khúc tựa con rồng
    từ bắc về nam bao nhiêu đoạn
    uốn lượn sơn khê mấy diệu tinh
    vòng qua môn hãn chảy vào hồ
    phân đôi dòng nước ôm châu ngọc
    hợp lại phía sau huyền vũ dầy
    lưu luyến vòng xa qua ba cửa
    chẳng muốn đi xa vẫn muốn vào
    nước chảy đi nước giờ chảy lại
    dòng sông này chảy nại người ơi
    có phải sông voi lên vòi quay lại
    lưu luyến giống nòi ngưu giác thần tiên
    ồ đây thiên định viên minh
    hồi long cố tổ khuynh phương bắc
    minh đường bát ngát phẳng như gương
    tể tướng cúi đầu chim sẻ đậu
    hộ môn kim ấn sắp hai hàng
    tinh kỳ giáo mác ba tầng lớn
    kho đụn bầy ra khắp bốn phương
    ngựa trời thiên mã hai người dắt
    xuất trận uy nghi tướng đứng bên
    bút nghiên đã sẵn người mài mực
    tinh kỳ chỉ đợi gió tung bay.

  9. 10
    Tony Says:

    Xin bac Dai CÔNG Minh cho con xin e-mail hoac so ĐIỆN thoai cua bac. Con chi muon Hieu biet them ve dich so,Tuong hoc va su hoc Vietnam e-mail cua Con la Tinnguyen9@aol.com

  10. 11
    daicongminh Says:

    Nhà ở bên sông thanh khiết quá
    sáng ra mở cửa đón sương vào
    nhẩn nha uống tách trà thơm
    nghe chim rừng hót xem đàn bướm bay
    chờ cho nắng chiếu xuống vườn
    sương dần tan hết vác cần ta câu
    bờ sông mộc thụ che nghềnh đá
    ta ngồi dưới lá cá vàng bơi
    thạch bàn ngồi tựa buông câu
    ngâm nga ta hát mấy câu thánh hiền
    trời thanh gió nổi nước long lanh
    ta thả hồn ta theo dòng nước
    lấp lánh dòng giang đón nắng vàng
    xa xa núi biếc mờ sương phủ
    thấp thoáng thuyền ai lững lờ trôi
    phong sơn thủy mạc thân thương quá
    ôm ấp đời ta mãi ngàn sau.

  11. 12
    daicongminh Says:

    Đệ Nhất Bảo Giang
    chín con rồng lộn độ giang môn
    minh chúa hiên ngang đứng giữa dòng
    hữu hổ hai bên chầu hai phía
    lưỡng long vòng trước lại vòng sau
    minh đường bát ngát vạn quân reo
    tướng đứng hai bên ngựa xắp hàng
    quan quỉ cầm diệu như châu ngọc
    bắc đẩu thần tinh lượn bốn bên
    la thành lớp lớp như địa võng
    tứ thú phục bên điện cung minh

  12. 13
    daicongminh Says:

    BẢO GIANG MÔN

    Sáng ra nhìn mặt biển xanh
    Xung quanh toàn núi rừng xanh mịt mùng
    Ngày thường cắt cỏ băm rau
    Nuôi đàn lợn béo,chăm đàn gà con
    Bảo giang quí địa đất lành
    Rau xanh mọc khắp,quanh rừng Đảo Tiên
    Thảnh thơi ta cắt,rau rừng
    Chăm no cầy cấy nuôi đàn con thơ
    Đất lành quí địa thần tiên
    Là nơi qui ẩn những tay thánh hiền
    Tả bạch hạc hữu cửu tường
    Kiều môn án trước cao bành tựa sau
    Nơi đây chính thực bảo giang
    Năm trăm năm trước trạng mong nơi này
    Kim kê nay đã khiếu rồi
    Cửa trời đã mở ta ngồi xem chơi
    Ở nơi cận bắc đường sau
    Ai mà tìm thấy mới là thần minh
    Uy nghi trạng mạo khác hình
    Thác cư một góc kim tinh phương đoài
    Đồ thư trời đất đặt bầy
    Người hiền đâu đoạt thiên cơ mà dùng
    Chẳng hay có được thiên thơ
    Là do trời đã an bài từ xưa
    Ý ra lục thất gian này
    Thời vận đã định thời này xem sao.

  13. 14
    Vôdanh Says:

    daicongminh ….he…he hai vai L


RSS Feed for this entry

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: